Blogroll

Showing posts with label Bồ tát Long Thọ. Show all posts
Showing posts with label Bồ tát Long Thọ. Show all posts

Friday, April 11, 2014

Những vị Bồ Tát khai sáng Tịnh Độ (Phần 1) - Long Thọ Bồ Tát - BỒ TÁT LONG THỌ VỚI PHẬT A DI ĐÀ VÀ CÕI TỊNH ĐỘ

BỒ TÁT LONG THỌ VỚI PHẬT A DI ĐÀ VÀ CÕI TỊNH ĐỘ
Nguyên tác: Nagarjuna on Amida and His Pure Land  - Tuệ Uyển chuyển ngữ


Trong tác phẩm tuyệt hảo của mình, Giáo Huấn Chân Thật, Thực hành và Thân Chứng của Pháp môn Tịnh Độ, Thân Loan đã trả lời những bình luận trong Phật giáo – đặc biệt là những học giả - những người nghĩ rằng những giáo huấn của ông không có thực hành ngoại trừ một niểm tin giản dị đối với Phật Di Đà là hoàn toàn không phải Phật giáo.
Đấy là những chuyên gia trên Con Đường của Những Bậc Hiền Thánh. Đối với họ, những giáo huấn của Long Thọ về tính không là thiết yếu khi họ tìm cầu sự chấm dứt khổ đau của họ và cuối cùng trở thành những vị Phật.
Ở đây là một bậc thầy trên Con Đường của Những Bậc Hiền Thánh giải thích như thế nào về sự cống hiến của Long Thọ đối với tư tưởng của Đạo Phật:
Long Thọ tìm sự giải thoát tâm thức khỏi khuynh hướng bám víu của nó để làm rõ ràng hay sáng tỏ những phát biểu có hệ thống của chân lý, bởi vì bất cứ chân lý nào thiếu vắng tính không, sự trống rỗng của thực tại, là sự hướng dẫn sai lầm một cách căn bản. Những chân lý tương đối không giống như những mãnh của một đáp án, mỗi phần bổ xung thêm vào đồ án tổng thể.
Chúng là những phương diện phản chiếu có vẻ hợp lý của chân lý và có thể làm sai lạc một cách nghiệm trọng niềm khát vọng. Chúng không thể bị phủ nhận một cách nhẹ nhàng hay toàn bộ, tuy nhiên, vì chúng là tất cả những gì mà những người tìm cầu có, và vì thế người ấy phải học tập để sử dụng chúng như những sự hổ trợ bổ xung cùng lúc phải nhớ rằng chúng không chính xác cũng không hoàn toàn trong chính tự thể của chúng.
Ngay cả trước khi thời Mạt Pháp bắt đầu, chính Long Thọ đã nhận ra nó là khó khăn như thế nào để cho người ta thân chứng Phật quả bằng việc nắm lấy khái niệm, và kinh nghiệm của tính không.
Vì lý do ấy, Thân Loan đã trích dẫn Long Thọ để làm sáng tỏ điểm quan trọng đến Con Đường của Những Bậc Hiển Thánh của những hành giả trong thời đại của ngài – và của chúng ta.
Đây như là một thí dụ và chỉ là một đoạn kệ mà Long Thọ xưng dương Phật Di Đà và Con Đường Dễ Dàng của Pháp môn Tịnh Độ.
Bằng phương tiện của cổ xe Bát Chính Đạo này
Hành giả có thể vượt qua đại dương khó khăn để đi đường tắt,
Để cứu độ chính mình và cứu độ những người khác.
Con xin tôn kính Đấng Vô Thượng của con người.
Vì thế, nếu chúng ta đang cố gắng để chấm dứt khổ đau của mình một lần và vĩnh viễn – và để đạt đến mục tiêu giải thoát hoàn toàn vào trong Phật quả - hãy lắng nghe một cách sâu sắc lời dạy của Thân Loan – và sau đó cùng Thân Loan lắng nghe lời thâm diệu của Long Thọ.
Đây là những lời của Thân Loan:
Trong giáo huấn của Đức Phật có vô số pháp môn.
Giống như có những con đường khó khăn và dễ dàng trên thế gian này – vì hành trình đường bộ là đầy những khó khăn trong khi dong ruỗi bằng thuyền là dễ chịu – vì thế đấy là những con đường của BồTát đạo.
Một số dấn thân trong sự thực hành nghiêm khắc và nổ lực.
Những người khác tiếp cận một cách nhanh chóng tầng bậc bất thối chuyển qua sự thực hành dễ dàng của quy mệnh hay phó thác thân mình cho phương tiện [vì sự đạt đến nó]…
Vì quá nhiều hành giả của những pháp môn khác nhau trên Con Đường của Những Bậc Hiền Thánh VẪN còn hướng đến Đại tổ sư Long Thọ cho tuệ trí và phương hướng, hãy cùng nhau lắng nghe một cách sâu sắc những đoạn kệ về Đức Phật Di Đà cùng cõi Cực Lạc của ngài [Long Thọ].

1-
Đức Phật Di Đà tuệ trí sáng soi rực rở.
Thân tướng Ngài như Ngọn núi vàng ròng.
Con chấp tay cúi đầu đảnh lễ bây giờ,
Con xin tôn kính Ngài qua thân, miệng và ý.

2-
Hào quang kim sắc kỳ diệu tuôn tràn qua bao thế giới.
Theo đấy, mọi vật hiển lộ vẻ đẹp của Ngài.
Đây là tại sao con bày tỏ lòng tôn kính đến Ngài với đầu thành đảnh lễ.

3-
Nếu ai đấy kết thúc cuộc đời của mình được tái sinh vào quốc độ của Ngài,
Sau đó người ấy được phú cho với vô lượng phẩm chất.
Đây là tại sao con quy y nương tựa nơi Ngài.

4-
Người nào bắt đầu nghĩ tưởng về Đức Phật này,
Có đức hạnh và vô biên năng lực của Ngài,
Thể nhập ngay lập tức vào trong thể trạng chắc thật (để trở thành một vị Phật).
Đây là tại sao con luôn luôn nghĩ về Ngài.

5-
Con người trong thế gian này, vào lúc cuối cuộc đời của họ,
Mặc dù người ấy phải chịu đựng đau khổ dày vò,
Sẽ không hài lòng hoặc rơi vào địa ngục.
Đây là tại sao con xin nương tựa và tỏ lòng tôn kính Ngài.

6-
Nếu ai được sinh ra trong thế giới này,
Người ấy sẽ không rơi trở lại trong ba đường ác (địa ngục, ngã quỷ, súc sinh)
Ngay cả không sinh trong thế giới A tu la (bán thiên).
Con quy y trong Ngài và tỏ lòng tôn kính bây giờ.

8-
Chư thiên và con người có những phẩm chất chung
Và giống với đỉnh của ngọn núi vàng.
Tất cả những bậc siêu việt hội họp ở đấy.
Đây là tại sao con tỏ lòng tôn kính và hướng đến Ngài.

9-
Những ai được sinh ra trong thế giới ấy
Được phú cho những năng lực thiên nhãn và thiên nhĩ:
Họ nhìn thấu khắp mười phương mà không chướng ngại.
Con cúi đầu đảnh lễ trước đấng tôn quý vô thượng.

10-
Trong thế giới ấy, tất cả những chúng sinh
Có năng lực thần thông di chuyển,
Và những người học hỏi trong tâm họ
Được ban cho khả năng nhớ lại những đời sống quá khứ
Đây là tại sao con dập đầu tỏ lòng tôn kính Ngài.

11-
Đối với những ai sinh ra trong thế giới này
Không còn có “tôi” và “của tôi”,
Họ không sinh ra trong những tư tưởng như vậy.
Đấy là tại sao con dập đầu tỏ lòng tôn kính đến Ngài.

12-
Một khi đã được rời khỏi ba cõi [luân hồi],
Người ấy có sự xuất hiện như những cánh hoa của một hoa sen trắng.
Số lượng của hàng đệ tử là vô lượng.
Đây là tại sao con cúi đầu tỏ lòng tôn kính Ngài.

13-
Những chúng sinh trong thế giới này có đặc tính của Đức Phật này;
Họ cao quý và hòa hiệp.
Họ tự động hoàn thành mười điều thiện nghiệp (toàn hảo).
Con xin cúi đầu trước trước Đức vua của các vị Thánh.

14-
Kết quả trên những những hành vi tốt đẹp của họ
Một hào quang thanh tịnh phát sinh trong họ,
Vô lượng và vô biên;
Họ là hàng thượng thủ trong nhân loại
Đây là tại sao con quy y trong Ngài.

15-
Nếu ai phát nguyện trở thành Phật,
Và nghỉ tưởng về Đức Phật Di Đà,
Ngay lúc phát nguyện này,
Ngài sẽ biểu lộ thân tướng trước người ấy.
Đây là tại sao con quy y với Ngài.

16-
Bằng năng lực thệ nguyện ban sơ của Đức Phật này,
Những vị Bồ tát trong khắp mười phương
Đến và cúng dường cho Ngài và lắng nghe Giáo
Pháp.
Đây là tại sao con cúi đầu đảnh lễ Ngài.

17-
Những vị Bồ tát trong thế giới này
Được phú cho tất cả những biểu hiện và trình độ.
Họ được ban cho một cách tương tự trên thân tướng họ.
Bây giờ, con xin quy y và tỏ lòng tôn kính.

18-
Những đại Bồ tát trong thế giới này.
Mỗi ngày ba lần cúng dường
Đến chư Phật trong mười phương.
Đây là tại sao con cúi đầu đảnh lễ đến Ngài.

19-
Nếu ai trau dồi gốc rể của những việc lành, nhưng còn nghi ngờ,
Hoa sen của người ấy sẽ không nở ra trước Ngài.
Với việc trở nên thanh tịnh, hoa sen của người ấy nở ra,
Và sau đó người ấy thấy Đức Phật.

20-
Chư Phật trong thường trụ trong mười phương
Ở giữa những nhân duyên thay đổi khác nhau,
Không thể sánh với công đức của Đức Phật này.
Con quy y với Ngài bây giờ.

21-
Những bánh xe của nghìn tia sáng từ bàn chân của Đức Phật
Có vẻ đẹp của hoa sen thanh tú.
Những ai thấy chúng luôn luôn cảm thấy đầy niểm hỉ lạc.
Trong sự hướng về Ngài của con,
Con xin tỏ lòng tôn kính bàn chân của Đức Phật.

22-
Hòa quang từ lông trắng giữa lông mày của Ngài
Giống với mặt trăng tinh khiết,
Và làm tăng thêm vẻ đẹp của khuôn mặt Ngài.
Trong sự hướng về Ngài của con,
Con xin tỏ lòng tôn kính bàn chân của Đức Phật.

23-
Trong lúc bắt đầu phát nguyện trở thành Phật,
Người ấy đã làm những việc nào đấy hiếm hoi và kỳ diệu.
Vì vậy nó được viết trong Kinh điển.
Trong sự hướng về Ngài của con,
Con xin dập đầu tỏ lòng tôn kính Ngài.

24-
Giáo huấn của Đức Phật này phá tan tất cả gốc rể xấu ác.
Bằng lời lẽ ngọt ngào, chúng sinh tiếp nhận vô số lợi lạc.
Đây là tại sao con xin dập đầu đảnh lễ Ngài.

25-
Với lời lẽ ngọt ngào của Ngài, Ngài đến để hổ trợ kẻ khổ đau khẩn cầu hạnh phúc.
Ngài đã từng cứu độ những người trong quá khứ và Ngài cứu độ chúng sinh cho đến hôm nay.
Đây là tại sao con xin dập đầu tôn kính Ngài.

26-
Ngài được chư thiên và con người cực kỳ tôn kính.
Hàng chư thiên hướng đến Ngài và tỏ lòng
Kính lễ với vòng hoa của bảy niểm hoan hỉ.
Đây là tại sao con quy y trong Ngài.

27-
Tất cả sự hội họp của hàng thánh chúng đức hạnh,
Cũng như của chư thiên và loài người,
Quây quần chung quanh quy y với Ngài.
Đây là tại sao con cũng xin đảnh lễ Ngài.

28-
Bằng phương tiện của cổ xe Bát Chính Đạo này
Hành giả có thể vượt qua đại dương khó khăn để đi đường tắt,
Để cứu độ chính mình và cứu độ những người khác.
Con xin tôn kính Đấng Vô Thượng của con người.

29-
Chư Phật trãi qua vô lượng thế giới luân hồi,
Ca ngợi và nói về đức hạnh của Đức Phật này.
Mà chẳng bao giờ mệt mõi.
Con xin quy y trong bậc tinh khiết này.

30-
Bây giờ chính con, cũng như họ,
Ca ngợi vô lượng đức hạnh của Ngài,
Trên đạo đức của nguyên nhân này.
Con nguyện ước rằng Đức Phật luôn luôn nghĩ về con.

31-
Rằng trong đời hiện tại hay quá khứ,
Công đức mà con đã tạo được,
Dù nhỏ hay là lớn,
Con nguyện ước hồi hướng đi đến thế giới của Phật,
Và để luôn luôn có một trái tim tinh khiết.

32-
Bằng đạo đức của nhân duyên này của công đức của Đức Phật này (A Di Đà),
Phẩm chất siêu việt và kỳ diệu mà con đã tiếp nhận.
Con nguyện tất cả chúng sinh đạt được một cách tương tự như thế.

Phụ giải: Thi kệ của Long Thọ về Đức Phật A Di Đà và Cõi Tịnh Độ, được chuyển dịch từ “the Pure Land, Vol. 1, No. 1, June, 1979,” bằng tiếng Pháp, bởi Franny Sime, August, 1980. Xuất bản lần đầu tiên bởi the Buddhist Discussion Centre (Upwey) Ltd, Newsletter No. 5, September, 1981.
Nagarjuna on Amida and His Pure Land

Tuệ Uyển chuyển ngữ - 02/07/2010




TỊNH ĐỘ CHÂN TÔNG

Tịnh Độ Chân Tông là một hình thức của Tịnh Độ Tông Phật Giáo phát sinh vào thế kỷ 12 ở Nhật Bản. Phật Giáo Tịnh Độ được Đức Thế Tôn Thích Ca Mâu Ni khởi xướng trong những kinh điển Tịnh Độ.
Đức Phật Thích Ca dạy rằng, bằng việc hoàn toàn tin tường không gì lay chuyển hay nhất tâm vào Đức Phật A Di Đà, Đức Phật Vô Lượng Quang, chúng ta có thể đạt đến giác ngộ mà không cần phải trãi qua những giới luật khắc khe như Ngài đã từng tu tập. Giác ngộ có thể đạt đến trong kiếp sống tới, nơi mà chúng ta sẽ tái sinh trong một thế giới thanh tịnh hay Tịnh Độ, giải thoát khỏi mọi vướng mắc của đời sống. Con đường đi đến giác ngộ này mở ra cho tất cả những ai nhiếp niệm tư tưởng vô cùng với Đức Phật A Di Đà từ một đến mười niệm trong niềm tin không lay chuyển. Thêm nữa, tiến trình tín nhiệm này bảo đảm chắc chắn giác ngộ ở cõi Tịnh Độ của Phật A Di Đà, cũng thế nó bảo đảm một tác động chuyển hóa tích cực trong người Phật tử tin tưởng trong suốt thời gian cuộc đời còn lại của người tu Tịnh Độ.
Pháp Nhiên Thánh Nhân
Đạo Phật và hình thức Tịnh Độ tông, lan truyền khắp Á châu và được truyền đến Nhật Bản vào thế kỷ thứ 6. Sang thế kỷ 12, một tu sĩ Phật giáo tên là Pháp Nhiên (Honen) nghiên cứu học hỏi khắp các kinh điển lịch sử của Tịnh Độ tông và sau nhiều quán chiếu thâm sâu ngài đã đi đến một kết luận cách mạng tư tưởng rằng hầu hết mọi người trong thời đại của ngài đã bị chuyển dịch quá xa [ với thời chính pháp] và quá bị đắm chìm trong vọng tưởng nên không thể dùng những phương pháp thực hành Phật Pháp truyền thống của chùa viện để đạt đến giác ngộ. Từ lòng từ bi sâu xa của ngài, Pháp Nhiên nghĩ thật không công bằng nếu có một người nào bị loại trừ khỏi sự giác ngộ trong đời sống này và chủ trương Niệm Phật. Trong việc tụng niệm này, hành giả thừa nhận và tiếp nhận Đại nguyện của Đức Phật A Di Đà và cầu sự giác ngộ bằng việc được tái sinh nơi cõi Tịnh Độ. Câu niệm Phật trong tiếng Nhật là “Namu Amida Butsu” tức là Nam Mô A Di Đà Phật, có nghĩa là, “Con xin nương tựa Đức Phật A Di Đà.”
Một trong những cao đồ xuất sắc của Pháp Nhiên là Thân Loan (Shinran), đã tổ chức những nguyên tắc đã được Pháp Nhiên đề ra để hình thành nên Jodo Shinshu, có nghĩa là Tịnh Độ Chân Tông. Thân Loan, với tư tưởng của một học giả toàn hảo, đã cung ứng nền tảng cho những Phật tử cầu sự giác ngộ qua Đức Phật A Di Đà và Niệm Phật. Từ khi ngài viên tịch năm 1262, sự phổ thông thông điệp của ngài đã tiếp tục phát triển lớn mạnh và được biết đến với những ngôi chùa của Tịnh Độ Chân Tông trên toàn thế giới.
OVERVIEW OF SHIN BUDDHISM (trích từ Welcome to Ekoji Buddhist TempleVirginia, 1981)
Tác giả: Rev. Shojo Honda. Chuyển ngữ: Tuệ Uyển – 21/-6/2010 tại Tu viện Liên Trì, Alabama


NGÀI LONG THỌ VÀ TỊNH ĐỘ

Kinh Nhập lăng-già quyển 9 có ghi lời huyền kí, ngài Long Thọ xuất thế tại một nước lớn ở Nam Thiên Trúc, phá hai kiến chấp hữu vô, thuyết pháp Đại thừa vô thượng, chứng đắc Hoan hỉ địa, vãng sanh về nước An Lạc. Mọi người đều công nhận do ảnh hưởng của ngài mà hình thành tín ngưỡng Tịnh độ Di-đà…
Ngài Long Thọ đã từng gửi thư khuyên vua Satavahana của vương triều Andhra Nam Ấn Độ. Cuối thư có bốn câu kệ:
 Sinh lão bệnh tử, ba độc trừ
 Sinh về cõi Phật gặp từ phụ
Thọ mạng lâu dài đến vô lượng
Đồng Đấng Đại giác A-di-đà.

 Do đó, chúng ta có thể biết ngài Long Thọ khuyên nhà vua vãng sanh về cõi nước của Phật Vô Lượng Thọ.


Những vị Bồ Tát khai sáng Tịnh Độ (Phần 1) - Long Thọ Bồ Tát - NGÀI LONG THỌ VÀ TÊN KẺ TRỘM

NGÀI LONG THỌ VÀ TÊN KẺ TRỘM
(NAGARJUNA VÀ TÊN KẺ TRỘM)




Một thầy vĩ đại, Nagarjuna, luận sư của các luận sư, được một kẻ trộm lớn thăm hỏi... Kẻ trộm này đã nổi tiếng khắp vương quốc và anh ta cũng láu lỉnh, thông minh tới mức anh ta chưa bao giờ bị bắt cả. Mọi người đều biết - anh ta thậm chí đã từng đánh cắp từ kho báu của nhà vua, nhiều lần rồi - nhưng người ta không thể nào bắt được anh ta. Anh ta lảng tránh cực giỏi, một nghệ nhân bậc thầy.
Anh ta hỏi Nagarjuna, "Thầy có thể giúp được tôi không? Tôi có thể gạt bỏ được việc ăn trộm của mình không? Tôi cũng có thể trở nên im lặng và phúc lạc như thầy không?"
Nagarjuna là một vị Đạo sư vĩ đại nhất mà phương Đông đã từng sinh thành ra. Ngài thường sống trần, chỉ với một bình bát ăn xin, bình bát ăn xin bằng gỗ, nhưng các vua tôn thờ Ngài, kể cả các hoàng hậu cũng trọng vọng Ngài.
Ngài tới kinh đô và hoàng hậu thỉnh vào cung để chạm chân và cúi lạy: "Con cảm thấy rất bị xúc phạm bởi bình bát gỗ của Ngài. Ngài là thầy của các đạo sư; hàng trăm vua và hoàng hậu đều là tín đồ của Ngài. Con đã chuẩn bị một bình bát vàng cho thầy, được nạm bằng kim cương đẹp, dát ngọc lục bảo. Xin đừng từ chối - điều đó sẽ làm thương tổn, và làm con đau lòng. Trong ba năm các nghệ sĩ lớn đã chạm trổ nên cái bình bát ấy, bây giờ con sẵn sàng dâng cúng lên Ngài."
Bà ấy sợ rằng Nagarjuna nói, "Ta không thể chạm vào vàng được, ta đã từ bỏ thế giới này."
Nhưng Nagarjuna đã không nói như thế mà nói, "Được rồi! Hoàng hậu có thể giữ bình bát gỗ của ta, đưa cho ta bình bát vàng."
Ngay cả hoàng hậu cũng bị bất ngờ vì cứ nghĩ rằng Nagarjuna sẽ nói, "Ta không thể chấp nhận nó được." Bà ấy muốn Ngài chấp nhận nó, nhưng dầu vậy, sâu trong vô thức bà ấy đã quan niệm như truyền thống Ấn Độ cổ rằng: người đã thức tỉnh phải sống trong nghèo khó - cứ dường như không tiện nghi và nghèo khó vốn mang đặc chất tâm linh! Thật ra, chẳng có gì tâm linh trong đó cả.
Nagarjuna nói đồng ý nhận. Ngài thậm chí không nhìn chiếc bình bát vàng, cầm lấy và lặng lẽ bỏ đi.
Tên trộm thấy Nagarjuna đi ra khỏi kinh đô.
Ngài trở về ngôi đền mục nát bên bờ sông.
Tên trộm nói, "Một vật quí giá thế mình chưa bao giờ thấy - bao nhiêu là kim cương, bao nhiêu là ngọc lục bảo, bao nhiêu là vàng. Mình đã thấy nhiều thứ đẹp trong đời mình nhưng chưa bao giờ thấy thứ nào như thế, và làm sao người trần trụi này giữ nó được, và làm sao ông ta bảo vệ nó được? Bất kì ai cũng sẽ có khả năng cướp đoạt, vậy sao không phải mình?"
Tên trộm đi theo Nagarjuna.
Nagarjuna nghe thấy tiếng bước chân anh ta, Ngài biết ai đó đang tới sau mình.
Nagarjuna về tới ngôi đền đổ nát, không mái, không cửa; chỉ vài bức tường còn lại. Và Ngài đi vào bên trong.
Tên trộm nghĩ, "Làm sao ông ta bảo vệ được thứ quí giá thế? Vấn đề chỉ là vài giờ thôi." Anh ta ngồi rình bên ngoài cửa sổ, ẩn đằng sau bức tường.
Nagarjuna ném chiếc bình bát ra ngoài cửa sổ.
Tên trộm rất đỗi phân vân. Chiếc bình bát rơi ngay gần chân anh ta. "Người này làm gì thế nhỉ?" Anh ta không thể tin được vào mắt mình, bất ngờ cũng bị sốc. Anh ta đứng dậy - cho dù anh ta là kẻ trộm, anh ta là kẻ trộm bậc thầy và anh ta cũng có nhân phẩm nào đó. Anh ta ngỏ lời cám ơn.
- "Thưa ngài, tôi phải bày tỏ lòng biết ơn của mình. Nhưng Ngài là người hiếm hoi - ném đồ quí giá thế đi cứ như nó chẳng là gì cả. Tôi có thể vào và chạm chân thầy được không?"
Nagarjuna nói, "Vào đi! Thực ra ta đã ném bình bát để cho ông có thể vào gặp ta."
Tên trộm không thể nào hiểu nổi. Anh ta bước vào, nhìn Nagarjuna - im lặng, an bình, phúc lạc của Ngài - anh ta bị tràn ngập.
- "Tôi cảm thấy ghen tị với thầy. Tôi chưa bao giờ bắt gặp người như thầy. So với thầy, tất cả những người khác đều là ngợm. Thầy hoà hợp làm sao! Đã giải thoát thế giới này làm sao! Liệu có khả năng nào cho tôi nữa, một ngày nào đó cũng đạt tới sự hoà hợp như vậy, trí tuệ, từ bi như vậy và không gắn bó vào mọi sự như vậy không?"
Nagarjuna nói, "Ngươi có thể làm được. Đó là tiềm năng của mọi người."
Nhưng kẻ trộm nói, "Đợi đã! Để tôi kể cho thầy một điều. Nhiều lần tôi đã tới nhiều thánh nhân và họ tất cả đều biết tôi và họ nói, 'Đầu tiên anh chấm dứt cái nghề ăn trộm này, thế thì có thể làm bất kì cái gì. Nếu không bỏ nghề ăn trộm anh không thể trưởng thành về tâm linh được!
Cho nên xin Thầy đừng ra điều kiện đó bởi vì tôi không thể bỏ nghề ăn trộm được. Tôi đã thử và tôi đã thất bại nhiều lần rồi. Dường như đó là bản tính của tôi - tôi phải tiếp tục ăn trộm, cho nên đừng nhắc tới điều đó. Để tôi nói trước cho ông để ông không làm điều đó làm điều kiện."
Nagarjuna nói, "Đơn giản chỉ ra anh chưa bao giờ gặp thánh nhân thật sự. Những người đó tất cả đều phải đã là cựu kẻ trộm; bằng không sao họ phải lo nghĩ về việc ăn trộm của anh? Cứ ăn trộm đi và làm mọi thứ thật thiện nghệ nhất có thể được. Làm bậc thầy về bất kì nghệ thuật nào cũng đều tốt."
Tên trộm thậm chí còn bị choáng hơn:
"Đây là loại người gì thế nhỉ? Thế thì thầy gợi ý cái gì? Cái gì đúng, cái gì sai?"
Ông ấy nói:
"Ta không nói cái gì là đúng hay cái gì là sai. Hãy làm một điều: nếu ông muốn ăn trộm, thì cứ ăn trộm đi - nhưng ăn trộm một cách có ý thức vào. Tối nay đi đi, vào nhà một cách rất tỉnh táo, mở cửa, mở khoá, nhưng rất có ý thức. Và thế rồi nếu ông có thể lấy trộm được, thì lấy trộm, nhưng vẫn còn ý thức. Và tường trình lại cho ta sau bẩy ngày."
Sau bẩy ngày tên trộm tới, cúi mình, chạm chân Nagarjuna và nói:
"Bây giờ xin điểm đạo cho tôi vào Đạo tràng tu tập."
Nagarjuna nói, "Sao thế? Về việc ăn trộm của ông thì sao?"
Anh ta nói, "Thầy bợm lắm! Tôi đã thử hết cách rồi: nếu tôi ý thức, tôi không thể ăn trộm được. Tôi chỉ ăn trộm khi tôi vô ý thức và sống theo bản năng. Tôi chỉ có thể ăn trộm khi tôi vô ý thức.
Khi tôi ý thức thì tôi thấy rằng: toàn thể sự việc thế gian dường như ngu xuẩn thế, vô nghĩa thế. Tôi đang làm gì? Để làm gì? Ngày mai tôi có thể chết. Và sao tôi cứ tích luỹ của cải? Tôi có nhiều hơn tôi cần; thậm chí nhiều thế hệ cũng vẫn đủ. Việc ăn trộm có vẻ vô nghĩa tới mức tôi phải chấm dứt ngay lập tức.
Trong bẩy ngày tôi đã đi vào trong nhiều nhà và bước ra với tay trống rỗng. Và việc có ý thức tuyệt diệu thế. Tôi đã nếm trải nó lần đầu tiên, và đó chỉ là một nếm trải nhỏ - bây giờ tôi có thể hiểu được rằng, thầy tận hưởng nhiều thế nào, tâm hồn thầy phải mở hội nhiều thế nào. Bây giờ tôi biết rằng thầy là vua thực - trần trụi đấy, nhưng thầy là vua thực. Bây giờ tôi biết rằng thầy có vàng thực và lâu nay chúng tôi đang chơi với vàng giả."
Tên trộm trở thành đệ tử của Nagarjuna và về sau đã giác ngộ tức là đạt tới phật tính viên mãn.

OSHO kể

Những vị Bồ Tát khai sáng Tịnh Độ (Phần 1) - Long Thọ Bồ Tát

LONG THỌ  BỒ-TÁT
                   


Những con người vĩ đại thường xuất hiện với những kỳ tích phi thường, trong những nhân cách siêu việt đến nỗi trở thành huyền thoại cho muôn ngàn đời sau. Họ đã đến với trần gian này để chuyển hóa thế giới bằng một cuộc cách mạng tư tưởng chưa từng xảy ra trong lịch sử nhân loại, mà Phật giáo thời bấy giờ đang cần một con người như vậy.
Vâng, thời đó chính là khỏang 700 năm sau khi đức Thích Ca diệt độ, đạo Phật bị khủng hoảng giáo lý trầm trọng cùng tệ nạn bè phái sư tăng tràn lan, cho nên các học thuyết tà kiến của thế gian và ngoại đạo đã bành trướng len lỏi khắp mọi tầng lớp dân chúng cũng như tín đồ nhà Phật. Xã hội Ấn-độ đang đợi chờ một nhân vật kiệt xuất, hùng tài, để chấn chỉnh hiện trạng và cải cách hệ thống tư tưởng đang bị phân hóa vì sự bế tắc của giáo nghĩa Tiểu-thừa cũng như sự sai lầm nghiêm trọng của các học thuyết ngoại đạo.
          Giữa lúc ấy, ngài Long Thọ đã góp mặt cùng nhân gian như một Con Người, với sứ mạng vô cùng quan trọng: đó là làm cho con người hoàn bị hơn về tư tưởng và tốt đẹp hơn về nhân cách tâm linh.
Long Thọ đại sỹ, ngôn ngữ Bắc Phạm đọc là Nagârjuna, hạ sanh tại miền Nam Ấn-độ sau khi đức Thích Ca nhập diệt khoảng 700 năm. Tương truyền ngài sanh dưới gốc cây A Châu Đà Na, cây này có năm trăm vị long thần cư trú, lại nhờ Long Vương Bồ-tát mà thành đạo, nên ngài lấy hiệu là Long Thọ.
Long Thọ đại sỹ đã trải qua một cuộc sống phong phú, dị thường và đầy biến động. Nguồn tư liệu duy nhất mà chúng ta có thể tham khảo đó là một tác phẩm bằng Hán-văn: “Cuộc đời của Bồ-tát Long Thọ” do ngài Cưu-ma-la-thập dịch từ tiếng Sanckrit (Bắc Phạm). Tác phẩm này được tìm thấy trong tập thứ 15 của “Đại Chính Tân Tu Đại Tạng Kinh”.
          Theo tác phẩm này, Long Thọ là con trai của một gia đình Bà-la-môn quý phái nổi tiếng ở miền Nam xứ Ấn-độ. Ngay từ lúc còn bé, ngài đã biểu lộ tài năng xuất chúng về đường học vấn, từng thuộc làu 4 bộ Vệ-đà cũng như tinh thông giáo lý Bà-la-môn. Hơn thế nữa, ngài còn thấu triệt các món thiên văn học, địa lý, sấm vĩ, bí tạng và các đạo thuật khác như tàng hình, trường sanh, tiên tri, giải mộng... 
Tương truyền rằng, thuở còn trai trẻ, sau khi tinh thông các môn học và rèn luyện pháp thuật, một ngày nọ Long Thọ cùng với ba người bạn cùng thảo luận xem phải làm gì trong lúc này để thi thố những thứ mà mình đã hấp thu được từ trong sách vở. Họ quyết định dấn thân vào con đường nhục cảm. Bằng cách thực hiện phép tàng hình, bốn người bọn họ bắt đầu lén lút xâm nhập thâm cung của vị tiểu vương. Các  người phi tần của nhà vua lần lượt bị cưỡng hiếp, và sự việc này lan truyền ra khiến hoàng cung vô cùng phẫn nộ và kinh dị. Nhất là một người ái thiếp của nhà vua đã bị mang thai. Và nhà vua vô cùng phẫn nộ, nghĩ cách giăng bẫy để bắt thủ phạm ngay tại hiện trường.
Đêm nọ, nhà vua ra lệnh rải cát xung quanh cửa ra vào chốn khuê cung, và cho một đạo quân rình đợi những kẻ đột nhập phi pháp.
Mặc dù vận dụng pháp thuật tàng hình khiến người khác không thể nhìn thấy hình dáng của mình, nhưng bốn kẻ phi tặc này đã để lại dấu chân trên cát khi lẻn vào thâm cung. Binh lính phát hiện dấu chân bèn đổ xô vào đâm chém kịch liệt.
Những tiếng gào thét rên la thảm thiết vang lên, ba người bạn của Long Thọ bị giết chết, chỉ riêng Long Thọ tránh được thương tổn nhờ nhanh trí bám chặt lấy nhà vua, và sau đó thoát khỏi hoàng cung bình yên vô sự.
Tuy thoát được tai nạn kinh khiếp ấy, nhưng ngài Long Thọ đã thức tỉnh nhận ra rằng: lòng tham nhục dục và tình cảm thế gian chỉ là nguồn gốc của mọi khổ đau trong cuộc đời này. Do đó, ngài quyết chí xuất gia, đến trước tháp Phật để thọ giới và trở thành vị tỳ-kheo chân chính của đạo Phật.
Rõ ràng ngài Long Thọ là một nhân vật có cá tính mạnh mẽ và phi thường. Điều này được minh họa rất rõ bởi tính chất độc đáo của học thuyết Trung Quán Luận hay Trung Luận, môn triết học mà ngài đưa ra như một hệ thống khái niệm “Không” được phát hiện đầy rẫy trong vô số kinh điển Đại-thừa. Chính nhờ triết lý này mà ngài được thừa nhận như một trong những nhân vật quan trọng nhất của lịch sử tư tưởng thế giới.
Bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập kể rằng, “Sau khi học hết giáo lý Bà-la-môn, ngài Long Thọ trở thành Tỳ-kheo và đã tham cứu toàn bộ các Kinh, Luật, Luận trong tam tạng giáo điển chỉ trong chín mươi ngày! Nhưng điều này vẫn chưa làm cho Ngài thỏa chí, và ngài đã bắt đầu cuộc hành trình tìm kiếm những hiểu biết sâu sắc hơn, tường tận hơn về chánh pháp.
Cuộc phiêu lưu này đã đưa ngài đến tận những vùng xa xôi của phương Bắc Ấn-độ, nơi này, Ngài đã gặp một bảo tháp thờ Phật, ở sâu trong lòng đất trên dãy Hi-mã-lạp sơn. Nơi đây, ngài đã nhận được những bản chép tay của một số kinh điển Đại-thừa và ngài đã đọc say sưa, tuy nhiên ngài vẫn cảm thấy còn một chân lý cao siêu hơn có thể phát hiện đâu đó.
Để giải đáp điều này, ngài tiếp tục đi khắp Ấn-độ tham gia tranh luận với các triết gia, luận sư khác nhau, đồng thời tìm kiếm thêm những văn bản khác của kinh điển Đại-thừa. Với việc đi lại khó khăn thời bấy giờ, thì một hành trình dài lâu như vậy chắc hẳn gặp  nhiều gian khổ, nhưng ngài vẫn không bao giờ nản lòng, tự nguyện dâng hiến cuộc sống mình cho chân lý vi diệu của Như Thật Đạo.
Cuối cùng, ý chí sắt đá và quyết liệt đã chiến thắng cùng với sự đền đáp thỏa đáng: Ngài đã chứng đạt tới đỉnh cao của giáo lý Đại-thừa chứa đựng trong kinh Pháp Hoa.
Con đường dẫn ngài Long Thọ đến với kinh Pháp Hoa và các giáo lý Đại-thừa khác vô cùng quanh co, phức tạp - nhưng có lẽ không còn đường lối nào khác hơn! Trong thế giới Phật-giáo bảy trăm năm sau khi Phật niết-bàn, các tông phái Tiểu-thừa vẫn còn duy trì địa vị đáng kể về quyền lực giáo hội, tiềm lực phát triển và tầm quan trọng trong sinh hoạt tôn giáo.          
Các kinh điển Đại-thừa đã bắt đầu xuất hiện dường như để thách thức quan điểm và thực tiễn của phái Tiểu-thừa, nhưng sự việc ngài Long Thọ du hành khắp nơi để nghiên cứu và cầu học chân lý đã chứng tỏ các trung tâm của phong trào Đại-thừa hiện đang phân bố rải rác khắp nơi. Hơn nữa, chưa có một luận sư hoặc lãnh tụ triết học nào xuất hiện để phất cờ tấn công vào thành trì tư tưởng Tiểu-thừa. Trọng trách lớn lao này có lẽ dành cho ngài Long Thọ đảm đương và hoàn thành. Với sự tinh thông giáo nghĩa Bà-la-môn cùng thấu triệt tư tưởng Tiểu-thừa, kết hợp với lý tưởng cách mạng và hoằng dương Phật-pháp, khiến cho hậu thế kính ngưỡng ngài như là mẫu người lý tưởng để thực hiện công cuộc vĩ đại, có một không hai  ấy.
Chúng ta không thể nào không tự hỏi rằng, Phật giáo sẽ ra sao nếu không có ngài Long Thọ xuất hiện?
Long Thọ đã được Bồ-tát Đại-Long đưa tới long cung, và tại đây ngài được trao truyền những sách vở và kinh điển Đại-thừa của nhiều ngành khác nhau, những diệu pháp bí mật uyên áo còn đang được giấu kín. Qua các bộ kinh ấy, ngài đã thấu triệt tất cả những chân lý sâu xa, uyên áo của Đại-thừa.
Ngài đã chịu khó biên tập, phân loại, hệ thống hóa và sáng tác một số luận thư có giá trị vĩnh cửu, cho nên các nhà lập thuyết của nhiều tông phái về sau đã không ngần ngại suy tôn Ngài là sơ tổ của môn phái mà họ lập nên.
Đóng góp vĩ đại nhất mà ngài Long Thọ đã cống hiến cho nhân loại nói chung và Phật giáo nói riêng, đó là Ngài đã xác định cái cốt lõi của Đại-thừa Phật giáo bằng cách tuyên dương triết học Tánh Không, song song với việc truyền bá rộng rãi một sự minh giải chân chánh về giáo nghĩa Đại-thừa. Ngoài ra, ngài Long Thọ từng viết  một  trăm ngàn  câu  thi kệ về luận Ưu-ba-đề-xá (Duyên Khởi Luận), năm ngàn câu thơ về Phật-Địa Luận, năm ngàn câu thơ về Đại Thừa Phương Tiện Luận, Phật Đạo Trang Nghiêm Luận, năm ngàn câu thơ về Trung Luận, một trăm ngàn câu thơ về Vô Úy Luận.
Lúc bấy giờ, hoàng đế Nam Thiên-trúc tin thờ Bà-la-môn giáo và công kích Phật giáo, Ngài Long Thọ đến đó giáo hóa, khiến Vua bỏ tín ngưỡng Bà-la-môn giáo mà quy y Phật giáo. Từ đó về sau, Ngài nỗ lực hoằng pháp, viết nhiều sách chú thích kinh điển Đại-thừa, thiết lập thể chế cho giáo học Đại-thừa, khiến cho học thuyết “Bát-nhã Tánh Không” được truyền bá rộng rãi khắp Ấn-độ.
Long Thọ không những chỉ đạp đổ những sai lầm lý luận trong Phật giáo, mà còn chĩa mũi nhọn vào các lý thuyết triết học ngoại đạo, vận dụng hết khả năng trí tuệ để bài bác những diễn giải của những trường phái hư vô luận. Dưới uy lực vô song của nền triết học Tánh Không, các môn phái Tiểu-thừa đã bị nhận diện như là một thứ tà kiến nằm giữa lòng đạo Phật, mà chúng ta nhất quyết phải tận diệt nếu muốn khai thông con đường trở về tâm linh tối thượng.
Long Thọ Bồ-tát đã đặt nền móng thiết lập pháp môn Tịnh-độ, xiển dương Đại-thừa, hàng phục ngoại đạo. Tác phẩm quan trọng của Ngài được biết đến nhiều gồm có: Đại Trí Độ luận, Thập Trụ Tỳ-bà-sa luận, Trung quán luận, Thập nhị môn luận...
Trong bộ luận Tỳ Bà Sa, ngài khen ngợi pháp môn Tịnh-độ như sau:
              Nếu người muốn thành Phật
              Xưng niệm A Di Đà
              Ưng thời vì hiện thân
Nên nay con quy mạng

Do sức nguyện Phật kia
Mười phương chư Bồ-tát
Đến nghe pháp cúng dường
Nên con cúi đầu lễ

Các Bồ-tát cõi ấy
Đầy đủ những tướng hảo
Thân đẹp tự trang nghiêm
Nên con lạy quy y

Chư Bồ-tát Cực Lạc
Mỗi ngày trong ba thời
Cúng dường Phật mười phương
Nên con cúi đầu lạy

Nếu người trồng căn lành
Nghi thì hoa không nở
Kẻ lòng tin thanh tịnh
Hoa nở được thấy Phật

Hiện tại mười phương Phật
Dùng các thứ nhân duyên
Khen công đức Di Đà
Nên con quy mạng lễ

Cõi Cực Lạc nghiêm đẹp
Mầu nhiệm hơn thiên cung
Công đức rất sâu dày
Nên con lễ chân Phật…

Ngài lại sáng tác bộ luận Đại Trí Độ, trong ấy có đoạn văn khai thị về pháp môn Tịnh-độ như sau:

Niệm Phật tam-muội có thể trừ các thứ phiền não và những tội chướng đời trước. Các pháp tam-muội khác, có môn trừ được nghiệp tham dâm, nhưng lại không thể trừ được tập khí giận dữ. Có môn trừ được nghiệp ngu si nhưng lại không thể trừ được nghiệp sân hận và dâm dục. Có môn trừ được tam độc tham sân si nhưng không thể trừ được tội chướng nhiều đời trước.

Tóm lại, môn tam-muội nào cũng chỉ có năng lực hạn chế và riêng biệt, riêng  môn Niệm Phật tam-muội thì phát huy năng lực vô giới hạn, vì có sự gia trì của diệu lực chư Phật  không thể nghĩ bàn. Cho nên, Niệm Phật tam-muội có thể diệt trừ các thứ phiền não và các thứ tội chướng, lại nuôi lớn những phước đức lớn lao, sẵn đủ năng lực cứu độ chúng sanh. Chư vị bồ-tát muốn mau diệt tội chướng, được nhiều phước đức, sớm độ chúng sanh,  thì không chi hơn tu môn Niệm Phật tam-muội.

Về sau, ngài Long Thọ giao phó chánh pháp lại cho tôn giả Ca Na Đề Bà, rồi nhập thiền định mà từ bỏ xác thân phàm tục, để lại một sự nghiệp tâm linh siêu việt không thể nghĩ bàn: tư tưởng Đại thừa.