Blogroll

Showing posts with label Đạo xước. Show all posts
Showing posts with label Đạo xước. Show all posts

Saturday, April 12, 2014

Những vị Bồ Tát khai sáng Tịnh Độ (Phần 4) - ĐẠO XƯỚC (Tây Hà Thiền sư)

ĐẠO XƯỚC
          * Còn gọi là Tây Hà Thiền sư.




Cao tăng Trung Quốc, sống vào đời Đường, họ Vệ, quê ở Vấn Thủy tại Tinh Châu (huyện Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây), có thuyết cho là người ở Tấn Dương, Tinh Châu. Sư là Tổ thứ 2 của tông Tịnh Độ, và là vị tổ thứ tư trong 7 vị tổ sư của Chân Tông Nhật bản.
Ngài xuất gia hồi mười bốn tuổi, sau khi học giáo điển, lại theo Tảng thiền sư tập tham thiền. Thông suốt kinh luận, chuyên nghiên cứu kinh Niết-Bàn và từng giảng dạy kinh này tất cả 24 lần.
        Về sau, ngài trụ trì chùa Huyền Trung tại Thạch Bích, thuộc miền Văn Thủy. Chùa này do Đàm Loan Pháp-sư kiến lập từ trước. Nhân đọc văn bia của Hòa thượng Đàm Loan mà chuyển sang tín ngưỡng Tịnh Độ, lúc ấy Sư được 48 tuổi. Đạo Xước mến hạnh tu Tịnh-độ của ngài Đàm Loan, thường lặng  lòng quán tưởng, mỗi khi ngồi thường hướng về phương Tây, mỗi ngày sáu thời lễ kính không thiếu sót. Ngài định khóa mỗi buổi niệm Phật bảy muôn câu (70.000 câu Nam mô A Di Đà Phật).                   
        Sư giảng kinh Quán Vô Lượng Thọ đến hơn 200 lần, chủ trương bất luận là người tại gia hay xuất gia đều nên lấy việc niệm Phật làm thiết yếu. Trong lúc niệm Phật, phải đếm những hạt đậu nhỏ, gọi là Tiểu đậu niệm Phật, đây là khởi đầu của việc lần chuỗi niệm Phật ở Trung Quốc.
        Có một vị Tăng, khi nhập chánh định, thần thức dạo đến cảnh trang nghiêm ở Tây phương, thấy Đạo Xước tay lần tràng hạt sắc sáng đỏ, số hạt chuỗi rất nhiều, cao như non thất bảo. Ngoài ra, còn các điềm thoại ứng khác của ngài không thể thuật hết. Thiền sư thường vì đại chúng giảng kinh Vô Lượng Thọ và Thập Lục Quán đến vài trăm lượt. Sau khi giảng xong, thính chúng mỗi vị đều lần chuỗi niệm Phật, tiếng vang như sóng biển dâng trào. Có lúc đại chúng lại tản mác xung quanh niệm Phật, âm hưởng vang động rừng núi .
        Thường ngày, ngài khuyến khích đại chúng chuyên tu pháp môn Tịnh-độ, ý vị sâu sắc, lời lẽ như suối tuôn. Thính chúng đều cảm động, nhiếp niệm quên duyên, một lòng niệm Phật. Đôi khi có kẻ tà kiến lặn lội lên non muốn kích bác, nhưng khi thấy dung mạo uy nghiêm của ngài, đều lặng lẽ ra về. Thiền sư có sáng tác hai quyển “An Lạc Tập”, bao gồm những điểm thiết yếu của các ngài : Long Thọ, Thiên Thân, Huệ Viễn, Đàm Loan, được các bậc trí giả đương thời trân trọng .            
        Năm 629, nhằm niên hiệu Trinh Quán thứ hai, vào ngày mồng tám tháng tư, ngài biết thọ số không còn bao lâu, cáo tri trước cho khắp hàng đạo tục xa gần. Hôm ấy, đại chúng đến chùa chật nức cả trong ngoài. Sau thời khuyến dụ, đại chúng đều thấy Đàm Loan Pháp sư ngồi trên thuyền thất bảo giửa hư không, bảo Đạo Xước rằng: ’’Cung điện và lầu  các ở cõi Tịnh độ của ông đã hiện thành, chỉ còn dư báo tại Ta bà chưa dứt đó thôi!”. Tất cả mọi người lại thấy vô số vị Hóa Phật trụ giữa hư không, thiên hoa từ trên thinh không lác đác rơi xuống. Các hàng thiện tín lấy vạt áo hứng được, thấy cánh hoa trơn đẹp đáng yêu, nhiều màu sắc lạ. Có kẻ thử cắm trên đất, đến bảy ngày vẫn chưa héo. Đại chúng đều vui mừng ngưỡng mộ, ngợi khen là điềm rất ly kỳ, hiếm có.
          Từ ngày ấy trở đi, báo thân của thiền sư thêm khỏe mạnh, dung sắc càng tươi tắn. Vua Thái Tông nhà Đường từng đến Thái Nguyên thăm Sư và cúng dường nhiều châu báu quý giá. Đến năm 80 tuổi, sức khỏe Sư vẫn dồi dào, thần khí rất sảng khoái, giảng thông suốt nghĩa lý pháp môn Tịnh Độ.
        Ít lâu sau, vào năm 645, ngài vãng sanh, thọ hơn tám mươi tư tuổi. Lúc ấy, nhằm vào năm thứ 10 niên hiệu Trinh Quán, đời vua Đường Thái Tôn. 
        Đệ tử của Ngài là : Thiện Đạo, Đạo Phủ, Tăng Diễn, Đạo Ngân...
        Tác phẩm: Luận Tịnh Độ 2 quyển, An Lạc Tập 2 quyển...
        Ngài  được Thân Loan thánh nhân truy tặng Tổ Sư Thứ Tư của “Đạo Phật Chân Chánh trong pháp môn Tịnh-độ” (Tịnh-độ Chân Tông)
        Bấy giờ có Thích Đạo Phủ cùng ngài Đạo Xước đồng chí hướng, mỗi khi gặp nhau đều lấy sự vãng sanh Tịnh độ làm ước hẹn. Sau khi thiền sư viên tịch ba hôm, Đạo Phủ nghe tin, than thở bảo:’’Ta thường hẹn sẽ vãng sanh trước ông, nay kết cuộc lại đi sau. Nhưng cũng chẳng ngại chi, chỉ cần gia công thêm một chút, tất sẽ theo kịp!’’.
        Nói xong tắm gội  sạch sẽ, đến trước bàn Phật lễ nguyện trì niệm một lúc lâu. Kế đó lui ra, ngồi kiết già nơi thiền tòa, chấp tay xưng niệm danh hiệu A Di Đà mà hóa.



TRÍCH “AN LẠC TẬP”
Của Ngài Đạo Xước



Nếu giáo pháp tương xứng với thời và căn cơ thì dễ tu, dễ ngộ. Nếu căn cơ, giáo pháp lẫn thời điểm không tương hợp thì khó tu, khó nhập.
Thế nên, kinh Chánh Pháp Niệm dạy:
“Lúc hành giả nhất tâm cầu đạo thường phải nên quán sát thời và phương tiện. Nếu chẳng được thời và không phương tiện thì gọi là thất, chẳng gọi là lợi. Vì sao? Như dùi cây ướt để có lửa thì chẳng được lửa vì chẳng đúng thời vậy. Nếu chặt củi khô để kiếm nước thì chẳng kiếm được nước vì vô trí vậy”. Bởi thế, kinh Ðại Tập Nguyệt Tạng chép: “Năm trăm năm sau khi Phật diệt độ, các đệ tử của ta học Huệ được kiên cố. Một ngàn năm sau, học Ðịnh được kiên cố. Một ngàn năm trăm năm sau, học Ða Văn đọc tụng được kiên cố. Hai ngàn năm trăm sau, tạo lập chùa tháp, tu phước sám hối được kiên cố. Hai ngàn năm trăm năm sau, bạch pháp ẩn trệ, lắm điều tranh cãi, chỉ có chút ít pháp lành được kiên cố”.
Kinh ấy cũng lại dạy: Chư Phật xuất thế có bốn pháp để độ chúng sanh. Những gì là bốn?
Một là miệng nói ra mười hai bộ kinh, [đấy] chính là pháp thí độ chúng sanh.
Hai là chư Phật Như Lai có vô lượng quang minh, tướng hảo, hết thảy chúng sanh chỉ cần chuyên tâm quán sát thì không ai chẳng được lợi ích; đấy chính là thân nghiệp độ chúng sanh.
Ba là có vô lượng đức dụng, thần thông, đạo lực, các thứ biến hóa; đấy chính là thần thông lực độ chúng sanh.
Bốn là chư Phật Như Lai có vô lượng danh hiệu hoặc là [danh hiệu] chung hoặc là [danh hiệu] riêng. Nếu có chúng sanh nào chuyên tâm xưng niệm thì không ai là chẳng trừ được chướng, được lợi lạc và được sanh ở trước đức Phật. Ðó chính là danh hiệu độ chúng sanh”

Xét về chúng sanh hiện thời thì Phật diệt độ đã hai ngàn năm, chính là lúc [phải nên] sám hối, tu phước, xưng danh hiệu Phật vậy. Nếu xưng niệm A Di Ðà Phật trong một niệm thì sẽ trừ được tội trong cả tám mươi ức kiếp sanh tử. Một niệm đã như vậy, huống hồ là thường tu niệm! Ðấy chính là người thường luôn sám hối vậy.
Lại nữa, nếu như khi Phật diệt độ chưa lâu thì những việc trước như tu Ðịnh, tu Huệ là chánh học, còn những việc sau (sám hối, tu phước) chỉ là kiêm hạnh. Nếu như Phật diệt độ đã lâu thì Xưng Danh là chánh học, còn những việc trước chỉ là kiêm hạnh.
Tại sao vậy? Ðấy thật sự là vì chúng sanh xa cách Phật đã lâu, căn cơ, kiến giải hời hợt, cạn cợt, ám độn. Bởi thế, đại sĩ Vy Ðề Hy tự vì mình và cũng vì xót thương chúng sanh trong đời ngũ trược mai sau luân hồi nhiều kiếp, chịu đựng nỗi đớn đau, thiêu đốt; nhân gặp duyên khổ, ngài bèn thỉnh cầu đức Phật mở ra con đường xuất thế thênh thang. Ðức Ðại Thánh rủ lòng từ, khuyên quy Cực Lạc. Nếu muốn trong cõi này tấn tu để đạt được quả thù thắng khó đạt thì chỉ có mỗi một môn Tịnh Ðộ là có thể [giúp hành nhân] thỏa lòng mong mỏi .
Nếu như tìm xem trong các kinh thì những đoạn khuyên tu Tịnh Ðộ rất nhiều, [nên tôi] bèn sưu tập những lời chơn thật ấy để giúp cho người tu được lợi ích.
Lợi ích gì? Muốn do người vãng sanh trước dẫn dắt người hậu học, người được vãng sanh sau lại noi gương người trước, liên tục vô cùng, nguyện chẳng ngưng nghỉ để cạn sạch biển sanh tử vô biên vậy.

Tuesday, April 8, 2014

NHỮNG VẦN THƠ NGỢI CA LÒNG TIN CHÂN CHÁNH

NHỮNG VẦN THƠ NGỢI CA

LÒNG TIN CHÂN CHÁNH


(Le Poème sur la Foi Véritable)
Nhật-ngữ: SHÔ SHIN GE




[1]
kính lạy Tây phương A Di Đà Phật
con trở về nương Sức Sống Vô Cùng
xin cúi đầu phủ phục trước từ dung
vì kính ngưỡng Hào Quang bất tư nghị
[2]
Thuở xa xưa, thời gian như mộng mị
năm tháng như nghìn số cát sông Hằng
Ngài thực hành Bồ-tát đạo siêng năng
danh hiệu là Pháp Tạng thánh tăng
tu học theo Thế Tự Tại Vương Phật
[3]
Nghiên cứu các nguyên do và năng lực
đã cấu thành cõi sạch khắp mười phương
các phẩm chất thanh cao
những khuyết điểm tầm thường
của chư Thiên, loài người nơi tam giới

[4]
Thương chúng sanh đời đời quằn quại
Ngài lập ra những lời nguyện  kiêu hùng
tuyệt vời và lớn rộng tựa hư không
cứu tất cả hữu tình không phân biệt
[5]
Ngài thiền quán suốt năm đại kiếp
cho đến khi định lực tựu thành
Danh Hiệu Ngài tích tập vạn công năng
vang vọng cả mười phương cõi nước
[6]
những tua sáng huy hoàng vô lượng
những tia màu tỏa rạng nơi nơi
rực lòa hơn ngọn lửa mặt trời
không ngăn ngại, dần lan vô cùng tận
[7]
Ánh sáng Ngài hoàn toàn trong sạch
tràn niềm vui và tuệ giác mênh mông
ánh sáng miên trường, bất diệt, vô song,
vượt lên trên mọi suy tư và diễn tả

[8] vầng nhật nguyệt mai kia ắt tàn tạ
ánh sáng Ngài xuyên vũ trụ, không gian
tẩy sạch bao cát bụi ngỡ ngàng
trùm phủ lên chúng sanh
muôn triệu vầng hào quang uyển chuyển !
 [9]
Danh Hiệu được tuyên dương từ Bản Nguyện
khơi trong con chân tánh Nhất-như
chuyển hóa nhân gian bởi đức từ
tâm thành khẩn và niềm tin hỷ lạc!
[10]
Chúng con sẽ tựu thành Tâm Toàn Giác
và chứng đắc quả vị Đại Niết Bàn
níu chiếc bè Bản Nguyện với hân hoan
để chắc chắn cập bến bờ giải thoát
[11]
Chúng con hiểu vì sao đức Phật
đã xuất hiện nơi thế gian này
thương chúng sanh Ngài nhẫn nại chỉ bày
đại dương bao la
của Bản Nguyện A Di Đà !

 [12]
vào thời đại của năm món hôi tanh
nếu muốn giải thoát cả chúng sanh
thì chúng con phải nghiêm túc thực hành
những lời dạy đúng đắn của Phật!
[13]
tham dục lịm tắt như gió ngàn tản mác
khi chúng con cảm nhận trái tim Ngài
đầy yêu thương, hoan lạc, ngất ngây
như chứng ngộ Niết-Bàn vô thượng!
[14]
dẫu là những chúng sanh tầm thường
đầy tội chướng
hoặc thánh nhân cao thượng
hoặc kẻ phỉ báng Lẽ Chân
đều được Ngài cải hóa khỏi mê lầm
hòa tan vào nước đại dương giải thoát
[15]
Lòng yêu thương ấm nồng của Phật
thường sáng bừng và bảo bọc chúng con
dập tắt luôn những bóng tối chất chồng
của ngu si, đam mê và lầm lạc

[16]
Dục vọng như
đám sương mù dày dặc
cùng mây đen của giận dữ, điên cuồng
từng che khuất các khoảng mát yêu thương
của bầu trời tín tâm chân thật
[17]
như ánh sáng mặt nhật
bị sương mù lấp che
khi sương mù tan mất
thì ánh sáng hiện về
bóng đen liền phai nhạt
[18]
Chúng con được lòng tin chuyên nhất
tri kiến, và lòng sùng kính thiết tha
niềm hân hoan giúp con nhảy thật xa
chỉ một bước: vượt trên năm đường dữ

[19]
chúng con là bọn làng nhàng ngái ngủ
dù thiện lương hay là kẻ bất lương
nếu được nghe Bản Nguyện phi thường
liền chấp trì với tâm tình ngưỡng mộ
thôi, từ nay thấm nhuần ơn cứu độ
tự trang nghiêm bằng Tri Kiến tuyệt vời
đúng như lời khen ngợi của Như Lai :
“các con là những bông sen trắng !”
[21]
Dẫu có những kẻ xấu ác
ôm hoài cái nhìn lầm lạc
nhưng quyết dốc trọn tín tâm
tin vào Bản Nguyện siêu phàm
thực hành Niệm Phật siêng năng đêm ngày
và ơn đức của Như Lai
rưới tràn một thuở cho đầy Trí Bi !
[22]
chấp nhận điều trên… ôi quá khó!
rồi giữ gìn và gắn bó lâu dài
một lòng tin cậy mà vui
là điều khó nhất trên đời, phải chăng?  
[23]
Các luận sư nơi miền Thiên Trúc
hoặc ở gần rất mực Cachemire
tổ sư Đông Độ đề huề
Trung-hoa, Nhạt-bản đều đi chung đường

[24]
Tất cả đều kiên cường minh chứng :
Phật Thế Tôn hạ giáng trần gian
lý do chắc chắn rõ ràng
ấy là khai thị lời vàng thiêng liêng
để chánh pháp uyên nguyên mạng mạch
để chúng sanh trừ sạch buồn đau
phải nương Bản Nguyện nhiệm mầu
A Di Đà Phật
bắc cầu Nam


[25]
Thuở còn tại thế, ngày xưa
đứng trên đỉnh núi Lăng-già
hôm nao đức Phật Thích Ca dạy rằng :
“Nơi miền Ấn-độ phương Nam
sẽ hạ sanh bậc cao tăng phi phàm!

 [26]
Bồ-tát ấy pháp danh Long Thọ
thừa khả năng đạp đổ ngụy tà
con đường Trung-Quán nở hoa
chấp KHÔNG chấp HỮU: đều là vô minh !
[27]
Ngài xiển dương
Tâm Linh Tối Thượng
là Đại Thừa thù thắng không hai
vãng sanh Cực Lạc cuối đời
chứng Hoan Hỷ Địa, trời người ngả nghiêng!
[28]
Ngài quyết liệt bao phen xác nhận :
Thánh Đạo Môn: quả thật khó đi
đường dài hiểm trở gian nguy
biết bao nỗ lực rất chi mệt nhoài
[29]
Dị Hành Đạo: hoa cười nụ hé
dấn thân cùng thú vị niềm tin
lòng vui nên chí cũng bền
tòa sen bất thối tự nhiên nở bừng!
[30]
nên chúng con chuyên cần đọc tụng
Danh Hiệu Ngài chấn động mười phương
biết bao diệu dụng phi thường
thì xin đón nhận với lòng tri ân!
[31]
Ấn-độ xưa, Thiên Thân bồ-tát
xác nhận trong bộ luận Vãng Sanh :
“con xin đem dạ chí thành
“quy y đức Phật Thọ Quang vô cùng!” 
 [32]
căn cứ vào một rừng kinh pháp
Ngài tỏ bày sự thật hiển nhiên:
Bản Nguyện vĩ đại, thâm huyền
chính là Bước Nhảy qua miền An Vui!
[33]
Ngài công bố tuyệt vời Bản Nguyện
đầy công năng cải biến tâm linh
Ngài nhấn mạnh pháp thực hành:
“ Tâm Chuyên Nhất
phải tựu thành trước tiên !”

[34]
vừa phân biện vừa liền tiến bước
vào đại dương công đức ngọc ngà
tức thời nhất quyết tham gia
Liên Trì hải-hội hiện tòa sen thanh!
 [35]
Lòng Tin tưới nguyện thêm xinh
bảo liên cảnh giới tự nhiên mở bày
lộ ra Bản Thể Xưa Nay
kết tinh diệu pháp mặt mày rưng rưng
[36]
Rồi quay lại giữa rừng tham dục
tung hoành bằng quyền lực siêu nhiên
thần thông buộc đá phải mềm
khu vườn Sanh Tử mặc tình thênh thang!
[37]
Tổ-sư Tịnh-độ: Đàm Loan
được Lương Võ Đế sắc phong Đại Hiền
kính như Bồ-tát hóa thân
chắp tay ngưỡng vọng cúc cung hướng về !

[38]
Thuở thiếu thời, Ngài mê ngoại đạo
sách thế gian Trang, Lão, tà kinh
gặp Lưu Chi bỗng giật mình
đốt quách Trang Lão, mà tin pháp Thiền!
[39]
Đọc bản dịch các kinh Tịnh-độ
Ngài Đàm Loan tỏ ngộ Pháp-thân
nguyên nhân hậu quả dập dồn
cũng từ Bản-nguyện là nguồn là căn
[40]
chú thích bộ luận Vãng Sanh
tổ sư, Bồ-tát Thiên Thân thuở nào
Ngài rằng: “Tha Lực nhiệm mầu
khả năng chuyển hóa khổ đau luân hồi
đức tin khiến núi phải dời
là nhân tố chính khiến đời sạch trong!

[41]
cũng có kẻ quay cuồng sống chết
vì nhiễm lây độc tố nghi ngờ
phải phát khởi lòng tin quyết liệt
chứng Niết-bàn ra khỏi Hữu Vô       
[42]
cần thiết nên vãng sanh Tịnh-độ
an trú trong vô tận quang minh
để tâm thức hoàn toàn chuyển hóa
chẳng nhọc công đổi lốt thay hình!
 [43]
Ngài Đạo Xước xác nhận rằng:
con đường Thánh Đạo mười phần khó theo
núi cao vực thẳm truông đèo
chỉ nương Tự Lực hắt hiu phận người
thực hành Niệm Phật mà vui
con thuyền Bản Nguyện thảnh thơi vượt bờ
vừa chèo vừa hát vu vơ
thấu miền Tịnh-độ công phu chưa tròn !

[44]
mười ngàn công hạnh chon von
còng lưng gắng sức mỏi mòn tín tâm
si mê Tự Lực thêm lầm
chẳng bằng xướng đọc hồng danh Di Đà!

[45]   Đức Tin và Lòng Nghi
thường có ba cấp độ
tùy thuộc ba thời kỳ
thời chánh pháp kiên cố
thời văn tự pháp số
thời đạo lý tàn khô
lời dạy của Đạo Xước
nhắn  nhủ kẻ hồ đồ!               
[46]
có những người tội khổ
vướng ác nghiệp trọn đời
nương Bản Nguyện Cứu Độ
tâm hồn được thảnh thơi
lâm chung được tiếp rước
về Thế giới An vui
gặt quả đức vi diệu
trong ơn Phật tuyệt vời! 

[47]
Ngài Thiện Đạo chứng minh
ý định thật của Phật
là đưa hết chúng sanh
trở về cõi Cực lạc
bằng Bản nguyện Di Đà
và ngài rơi nước mắt
xót thương kẻ bôn ba
quẩn quanh trong Tự Lực
càng lầm càng bước xa
hoặc tu hành tạp loạn
đắm phước báu sa đà
hoặc say sưa thiền quán
càng tu càng chấp Ta
hoặc những kẻ lạc lối
giữa lưới mê rừng tà
mò mẫm cùng tam độc
chẳng tìm được nẻo ra!           


[48]
Ngài Thiện Đạo ân cần dạy bảo
vầng hào quang tuyệt hảo Như Lai
Hồng Danh siêu việt không hai
chính là điều kiện cuối đời vãng sanh
thuyền buồm gặp gió lướt nhanh
đại dương Bản Nguyện tựu thành Trí Bi
[49]
Phật-hiệu bất khả tư nghì
siêng năng xưng niệm, kiên trì tín tâm
mới hay đón nhận bao lần
cho niềm hoan lạc trào dâng cõi lòng
[50]
thuở đức Phật hãy còn tại thế
Vi-đề-hy quyết chí tu hành
chuyên nhất xưng niệm Hồng Danh
cầu sanh về cõi trong lành Tây-phương
và lòng tin kiên cường, miên mật
chẳng bao lâu chứng đắc Pháp-thân
hạnh phúc siêu thoát vĩnh hằng
hiện tiền đập vỡ vô ngần chiêm bao!

  
[51]
 Ở Nhật-bản, có sư Nguyên Tín
đem pháp mầu giải thích sâu xa :
“mục đích của Phật Thích-Ca
là đưa nhân loại vượt qua sáu đường
trở về nơi cõi thanh lương
ân cần mời gọi, vừa thương vừa chờ!”
[52]
Ngài định nghĩa:
thế nào là công phu chuyên nhất
thế nào là tạp loạn tu hành
pháp nào là thẳm sâu bát ngát
pháp nào là hời hợt loanh quanh
Ngài đã từng tỏ tường phân biệt
giúp chúng ta hiểu biết đinh ninh
miền kia : Chuyển Hóa Tâm Linh
cõi này
Cực Lạc thanh bình Tây phương
  
[53]
dẫu
là kẻ vô cùng hư hỏng
chỉ chuyên ròng đọc tụng Hồng Danh
thì đời con vẫn an lành
được bao trùm bởi quang minh Di Đà!

[54]
đôi mắt tăm tối mù lòa
phải chăng tham dục che mờ con ngươi
Đại bi Nguyện lực của Ngài
luôn luôn tiếp cứu
những người trầm luân

 [55]
sư Pháp Nhiên xả thân vì đạo
từng thấu triệt chánh giáo Phật-đà
nhìn chúng sanh bỗng xót xa
ai là xấu ác, ai là thiện lương?           

[56]
sư rong ruỗi dặm trường xa lắc
tuyên bố rằng:
 đạo Phật cứu đời
nhờ nơi giáo pháp An Vui
lời vàng Chân Thật trao người hạ lưu!
Bản Nguyện
siêu thắng,
 tối ưu
tục, tăng, phàm, thánh, trí, ngu, sang , hèn
nắm tay,
bình đẳng bước lên!
[57]
có những kẻ nghi ngờ, do dự
đành quay lui sanh tử xoay vần
càng nghi càng lắm phân vân
cũng đành ở lại bụi trần lênh đênh! 

 [58]
nếu chúng con rảo nhanh thẳng tới
hạnh phúc của một cõi Thanh Bình
do vì tịnh tín tựu thành
giúp mau đạt quả Vô Sanh một lần!

[59]
thánh hiền chú giải kinh văn
tổ sư tạo luận, pháp đăng vững bền
chúng sanh xấu ác ươn hèn
thảy đều được rước qua bên kia bờ            

[60]
này người áo trắng tại gia
hoặc là Tăng sỹ cà sa đầu tròn
mong sao chuyên nhất tâm hồn
thức niềm tin dậy, ướp lòng thơm tho
A Di Đà Phật Nam
chiếc thuyền Bản Nguyện đợi chờ ai kia
vào ra hơi thở chia lìa
lời chư Tổ dạy,
con ghi bên lòng . . .


THÂN LOAN THI SỸ