Blogroll

Showing posts with label Vô Lượng Quang. Show all posts
Showing posts with label Vô Lượng Quang. Show all posts

Monday, April 7, 2014

SỐNG TRONG BỔN NGUYỆN CỦA PHẬT A DI ĐÀ - Nguyễn Thế Đăng

SỐNG TRONG BỔN NGUYỆN CỦA PHẬT A DI ĐÀ

                                                                               Nguyễn Thế Đăng






Chúng ta thấy một con người, bằng đức tin và niệm danh hiệu, đã gắn được cuộc đời mình với bổn nguyện của A Di Đà, và như thế, dù thân còn ở đây chưa về đến Tịnh độ nhưng tâm đã có phần dự vào trong Tịnh độ, trong Pháp thân, Báo thân và Hóa thân của Phật A Di Đà để xóa tan khoảng cách giữa Ta bà và Tịnh độ, giữa sinh tử và Niết bàn.


Tất cả chúng ta đang sống trong Ánh sáng Vô lượng (Vô lượng Quang) và Đời sống Vô lượng (Vô lượng Thọ), trong bổn nguyện của Phật A Di Đà, điều đó được nói trong 48 lời nguyện của Tỳ kheo Pháp Tạng (Dharmakara), tiền thân của Ngài.

Những ước vọng của kiếp nhân sinh và những khổ đau – mặt trái của ước vọng không thành của con người – đều được gói trọn trong bổn nguyện của A Di Đà. Bổn nguyện đó là Ánh sáng Vô ngại (Vô Ngại Quang Như Lai) có thể soi thấu đến những chỗ tối tãm nhất trong lịng người và xuyên qua những chất cứng nhất trong thế gian, cái bản ngã cứng đặc kiên cường và đen tối, và như thế, năng lực chuyển hóa của bổn nguyện là vô hạn. Bổn nguyện là tấm lưới của ánh sáng và đại bi trùm khắp chúng sinh ba cõi, chỉ cần một niềm tin chân thành là tấm lưới ấy hoạt động để đưa chúng ta đến với ánh sáng tỏa chiếu tình thương vô tận.

48 lời nguyện ấy đã thành tựu từ rất lâu xa, khi Bồ tát Pháp Tạng thành Phật đến nay đã được mười kiếp (một kiếp gồm 4.320.000.000 nãm, theo cách tính của Ấn Độ thời cổ, y cứ lời của Đức Phật Thích Ca dạy trong kinh A Di Đà (Xá Lợi Phất! A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai ư kim thập kiếp). Vì lý do đó mà những lời nguyện trên được gọi là bổn nguyện.
Chúng ta đang sống trong bổn nguyện, trong ánh sáng vô lượng và đời sống vô lượng mà theo ý niệm nhị nguyên của con người, chúng ta có thể hiểu rằng, ánh sáng vô lượng là trí tuệ và đời sống vô lượng là tâm đại bi của A Di Đà.
Cái làm cho chúng sinh tiếp xúc được với bổn nguyện của A Di Đà là đức tin. Trong 19 lời nguyện nhắm đến tất cả chúng sinh trong vũ trụ ấy, đều mang nội dung của đức tin. Đức tin ấy có thể hình dung qua những yếu tố sau đây:
Một ý thức sâu sắc về tính hữu hạn, thất thường, bất định, mâu thuẫn và phải chết của con người. Nếu chỉ đích danh hơn, những tính chất hữu hạn, mâu thuẫn nội tại ấy là đặc tính của cái ngã và những hoạt động phiền não của nó. Và trong tình trạng hiện thời, toàn bộ đời sống con người dựa vào cái ngã và những hoạt động tạo nghiệp của nó, hậu quả tất yếu là những khuyết điểm, lầm lỗi và khổ đau mà chúng ta gọi là sanh tử. Nhưng để thoát khỏi cái ngã đó, với phần đông con người là không thể, vì làm bất cứ điều gì, dù tu hành để giải thoát hay làm tốt cho người khác thì vẫn nằm trong sự giật dây của cái tự ngã, chỉ làm cho cái ngã, phụng sự cái tự ngã.
Với con người, không phải bao giờ cũng có thể có vị tha thực sự, lợi mình lợi người thực sự, vì thông thường có cái ta phản trắc luôn ở trung tâm của mọi hành động. Không giải quyết được khổ đau của mình, đồng thời chúng ta cũng gieo rắc khổ đau cho người khác. Nói theo hình ảnh của kinh Pháp Hoa, chúng ta là những đứa con khốn cùng, dù có may mắn nghe được cha mình giàu có đến trùm khắp vô vàn thế giới đang ở nơi xa kia chờ mình thì cũng không đủ sức trở về, dù có người dẫn dắt. Đôi chân con người đã mỏi mệt vì khổ đau của sinh tử, trí óc đã quá nặng nề vì những màn ảo hóa và chỉ khi thấy rõ sự hữu hạn, nhỏ bé và bất lực của mình, thấy sự mâu thuẫn nằm trong chính nền tảng của bản thân, con người khổ đau đó mới mở mình ra trước lời kêu gọi của đại nguyện của Phật A Di Đà.
·         Chúng ta không biết làm gì hơn là phó thác, hiến mình và tin cậy.
Khi tự lực trong mức độ chúng sinh chỉ là thất thường, mâu thuẫn nội tại, chính lúc đó, bắt đầu sự lắng nghe sâu xa tiếng kêu gọi của bổn nguyện, sự chấp nhận phó thác cho công việc đại bi của Phật A Di Đà. Một chuyển hóa bắt đầu xảy ra, con người từ bỏ những bất toàn, những xung đột mâu thuẫn nội tại của mình, để đi vào nguyện lực của Đức A Di Đà. Do đó con người thấy ra tha lực.
·         Không chỉ để đối phó với khổ đau, đức tin cũng là một mong mỏi bất tuyệt về một cõi không có ba đường ác (lời nguyện thứ nhất), thậm chí không có cả một danh từ để chỉ một sự ác nào (lời nguyện thứ 16). Tích cực hơn, đức tin cõi tịnh là một tình cảm nồng nhiệt đối với tất cả những gì đẹp đẽ, thanh tịnh đối với cõi nước, con người lành thánh của Phật A Di Đà. Chính sự kính ngưỡng đối với cõi Tịnh độ và Phật A Di Đà sẽ chuyển hóa những đam mê vào cõi dục của chúng ta, nguyên nhân của những phiền não khổ đau.
·         Cuối cùng, đức tin đó khiến chúng ta mở tâm thức, mở tấm lòng để đón nhận ánh sáng của lịng bi A Di Đà.
Trong các kinh Nikàya, có thuật lại rằng khi Đức Thích Ca giác ngộ, Ngài nhìn lại thế gian, quan sát chúng sinh như những hoa sen, có cái còn nằm trong bùn, có cái lên trong nước, có cái đã ra khỏi nước và có cái bắt đầu nở hoa, thấy thế, Đức Phật đã quyết định chuyển bánh xe pháp để đem lại lợi lạc cho chúng sinh. Với đức tin vào Phật A Di Đà và năng lực đại bi tr?ắp của Ngài, đoá hoa sen tức Phật tánh của mỗi người sẽ vươn lên và nở hoa trong ánh sánh vô lượng và đời sống vô lượng.
Đức tin là cái nối kết con người với lời kêu gọi ngập đầy thương yêu và ân điển tức là 48 lời nguyện của Đức A Di Đà với ánh sáng vô lượng và đời sống vô lượng  tức là bản tính của Đức A Di Đà. Nhưng sự kêu gọi và sự đáp trả còn thể hiện cụ thể, đó là niệm danh hiệu “Nam mô A Di Đà Phật”, “Nam mô” là sự trở về trong tâm linh của đưá con cơ nhỡ, lạc loài, vô phương tự thoát và “A Di Đà Phật” là quê nhà của nó, sự sống và là ánh sáng của nó.

Niệm Phật là thể hiện đức tin ấy.

Trong 19 lời nguyện nhắm đến các chúng sinh ở ngoài cõi Tịnh độ, có đến 14 lời nguyện nói đến “niệm danh hiệu” và “nghe danh hiệu”. Như thế, danh hiệu A Di Đà chính là Phật A Di Đà. Niệm danh hiệu là phương pháp được nói đến nhiều nhất trong những phương pháp để tiếp thông với Đức Phật. Niệm danh hiệu chính là đi về Tịnh độ và đi vào bản tính của Phật, đồng thời làm hiện thân Tịnh độ và bản thân Phật A Di Đà giữa thế gian.
Như trên đã nói, niệm danh hiệu được nhắc đến nhiều nhất trong các đường lối để tiếp cận với Phật A Di Đà và Tịnh độ. Niệm Phật là để sinh về Tịnh độ, nơi không có những tranh chấp mâu thuẫn giữa ta với người, ta với thế giới, và ta với chính ta, những mâu thuẫn muôn đời không thể nào giải quyết ở đời sống vận hành theo chiều hướng tư duy hữu ngã này.
Niệm Phật A Di Đà là niệm ánh sáng vô lượng, do đó thải trừ bóng tối vô minh nơi mình. Niệm Phật A Di Đà là niệm đời sống vô lượng, do đó thải trừ sinh tử nơi mình.
Như vậy, niệm danh hiệu đúng nghĩa chính là đang thực hiện sự tịnh hoá. Nó không chỉ là loại bỏ sự sợ hãi trước bóng tối và cái chết, mà còn đưa con người đến với ánh sáng vô lượng và đời sống vô lượng, nghĩa là khai mở Phật tánh trong mỗi người, như Tỳ kheo Pháp Tạng đã thành tựu và ứng dụng để tạo thành Tịnh độ trước đây mười a tăng kỳ kiếp.Bắt đầu niệm Phật là bắt đầu sự chuyển hoá. Mỗi câu niệm Phật là một lần chuyển hóa.
Sự chuyển hoá này xảy ra tại đây và bây giờ, thải trừ năm độc tham, sân, si, kiêu mạn và đố kỵ trong thân tâm mỗi người. Như thế, con đường đi về Tịnh độ bắt đầu ngay lúc này và tại đây, bằng danh hiệu Phật.
Lấy một hình ảnh thí dụ của Đại thừa, Phật A Di Đà ví như một mặt trăng giữa trời, mà mỗi câu niệm Phật như một chậu nước, mỗi chậu nước có một mặt trăng trong đó. Niệm Phật đến mức mặt trăng in hẳn vào dòng hiện sinh của hành giả, không còn tách lìa, dù ở đâu và lúc nào. Khi đã thật sự có mặt trăng Phật thường trực trong lòng, sự tái sinh về Tịnh độ khi chết ắt là một tiến trình tất yếu.
Theo Kim Cương thừa, Phật A Di Đà ở về phương Tây trong Ngũ Trí Như Lai, là chủ của Liên Hoa bộ. Thành tố của bộ này là lửa và màu là màu đỏ. Phật A Di Đà ngồi trên một tòa sen do một con công đội. Con công ăn thức ăn độc và chuyển hóa thành màu lông rực rỡ của mình, càng độc lông càng đẹp. Bộ Liên Hoa chuyển hóa tham dục của cõi này thành trí tuệ, biến ái dục của cõi dục này thành từ bi.
Bởi thế, khi nào tham dục – một trong năm độc – khởi lên chúng ta hãy niệm danh hiệu. Khi nào sắp nổi giận, chúng ta hãy niệm Phật, khi nào muốn cầu nguyện cho ai chúng ta hãy niệm Phật.
Danh hiệu Phật có tính cách của một thần chú (mantra), một tổng trì (dharani) thỏa mãn cho những nguyện vọng xuất thế gian (“nghe danh hiệu tôi, được Vô sanh pháp nhẫn và các môn tổng trì sâu xa” lời nguyện thứ 34) và những nguyện vọng thế gian (“nghe danh hiệu tôi, sau khi mạng chung, sanh ra vào những gia đình tôn qúy” lời nguyện thứ 43), (“nghe danh hiệu tôi, tất cả các căn không xấu xí, kém khuyết” lời nguyện thứ 41). Sở dĩ như vậy vì trong danh hiệu có đủ cả Pháp thân (Tâm giác ngộ, tâm Phật), Báo thân (Ánh sáng vô lượng, Thọ mạng vô lượng) và Hóa thân (sắc thân Phật và cõi Tịnh độ) của Phật A Di Đà. Bởi thế khi nào trong lòng chúng ta từ bi hỷ xả không sinh khởi, hãy niệm danh hiệu vì danh hiệu là sự tập trung thuần khiết nhất của từ bi hỷ xả. Sáu Ba la mật, năm căn, năm lực, bảy Bồ đề phần, tám Thánh đạo phần (kinh A Di Đà), cho đến đắc Vô sanh pháp nhẫn, tức con đường Đại thừa chung cho mọi tông đều có đủ trong danh hiệu Phật. Chúng ta cần nhớ rằng trong danh hiệu có Chánh báo và Y báo, nghĩa là có cả bản tánh trí tuệ và đại bi của Đức A Di Đà, đồng thời có Tịnh độ của Ngài.
Niệm Phật là thả mình vào công cuộc chuyển hóa của bổn nguyện, trút những xác chết của khổ đau phiền não không thể nguôi ngoai vào đại dương của bổn nguyện và để cho đại dương đó chuyển hóa cho. Như Phật Thích Ca đã nói “trong đại dương (Niết bàn) không dung chứa xác chết”, đại dương ánh sáng và đại bi của Phật A Di Đà cũng không chứa những phiền não khổ đau của chúng sinh mà sẽ chuyển hóa chúng thành những phẩm tính của Tịnh độ. Một bài kệ của Thân Loan (1173-1263), vị Tổ thứ hai Tịnh Độ tông Nhật Bản, đã viết:
Khi nhiều dòng sông phiền não chảy vào
Đại dương của lời nguyện đại bi
Của ánh sáng vô ngại, soi sáng mười phương
Chúng trở thành một vị với nước của trí tuệ.

Và như thế, không chỉ khổ đau phiền não của chúng sinh mà toàn bộ hiện sinh của con người được đặt trên nền tảng ban sơ và tối hậu của sự chuyển hóa: cuộc đời bấp bênh dễ vỡ như bọt biển (“bọt trong biển cả uổng chìm nổi” Tuệ Trung Thượng Sĩ) được an trú vào đại dương bổn nguyện của A Di Đà; tâm thức chúng ta tiếp thông với ánh sáng vô lượng, cuộc đời hữu hạn nhỏ nhoi của chúng ta tìm ra nền tảng của chính nó là đời sống vô lượng, sức sống của chúng ta cắm rễ vào lòng Bi không cùng.
Lúc ấy, thế giới này không còn là khổ đau sanh tử mà tất cả đều được chuyển hóa để trở thành sự biểu hiện của Phật A Di Đà như cõi Tịnh độ (giai thị A Di Đà Phật dục linh tuyên lưu biến hóa sở tác với kinh A Di Đà). Lúc đó là sự hợp nhất bất khả phân, ánh sáng hòa trong ánh sáng, hương thơm hòa trong hương thơm, như Saichi (1850-1933) nói :
Lòng tôi là lòng Ngài
Lòng Ngài là lòng tôi
Chính lòng Ngài trở thành tôi;
Không phải tôi trở thành A Di Đà
Mà A Di Đà trở thành tôi
Nam mô A Di Đà Phật.
Trong ánh sáng vô lượng có sự chuyển hóa hoàn toàn, tất cả đều trở thành ánh sáng, vẫn Saichi nói:
84.000 phiền não
84.000 ánh sáng
84.000 niềm vui tràn ngập
Ở trên là một vài trích dẫn lời phát biểu từ các thành tựu của hành giả niệm Phật, đó cũng chính là những tấm gương cho chúng ta, những lời ấy cho thấy chính đức tin chân thành sâu sắc rằng tất cả chúng ta đang sống trong bổn nguyện, ánh sáng vô lượng và thọ mạng vô lượng của Phật A Di Đà. Sống trong đức tin như vậy tạo thành Giới Định Tuệ cho một cuộc đời của một Phật tử Tịnh độ. Chỉ nói một mặt và sơ lược về một vài điều giới của một Phật tử Tịnh độ, đó là không tranh chấp, không oán thù, từ bi hỷ xả, không gieo thêm khổ đau cho mình và cho người khác, “không có ba đường ác, thậm chí không có cả danh từ đường ác” (kinh A Di Đà).
Một khi tâm không có xấu ác như vậy, thì nhờ đó mà cảm nghiệm được sự thanh tịnh đẹp đẽ của cịnh độ; tâm đó tịnh nghiệp của cõi Tịnh độ cho nên nó đã có phần tiếp thông với Tịnh độ. Như thế, cuộc đời đó được thãng hoa, gần với sự an ổn của bổn nguyện, gần với ánh sáng vô lượng và đời sống vô lượng hơn.
Trong thời đại hiện nay, tính chất tâm linh nơi con người đã yếu nhạt nhiều, hoàn cảnh bên ngoài dễ dàng cho con người sa vào tội ác. Nhưng cũng chính trong một thời khó khăn cho tâm linh như vậy, bổn nguyện của Phật A Di Đà lại càng có ý nghĩa hơn, khi bổn nguyện đó đã có trước cả sự sinh thành của thế giới chúng sinh và sẽ còn mãi với đức Vô lượng thọ.
Có lẽ rằng trong thời yếu kém tâm linh này, con người không có cách gì tiếp cận và vượt lên một đời sống cao thượng hơn, sáng sủa hơn, đầy tin yêu hơn, hòa hợp hơn và với phương tiện nào dễ dàng hơn pháp môn niệm Phật.
Những lời nguyện của Đức A Di Đà nhằm vào tất cả chúng sinh trong mọi mặt của cuộc đời với bao nhiêu giới hạn, tội lỗi, lỡ lầm. Như ngài Thân Loan đã nói:
“Khi tôi suy nghĩ về lời nguyện từ bi của A Di Đà, được thiết lập qua năm a tăng kỳ kiếp tâm niệm sâu xa, lời nguyện đó là dành cho chính tôi, Thân Loan, cho chính một mình tôi”.
Khi đức tin đã phát khởi, chúng ta có sự tương thông với Phật A Di Đà và sự tượng thông đó trở nên liên tục, tương tục và luôn luôn mở rộng cả bề sâu lẫn bề rộng bằng niệm danh hiệu Phật. Sự chuyển hóa liên tục xảy ra từ mối nối kết này, biến đổi con người tội lỗi, bất toàn, tự mâu thuẫn xung đột và phải chết của chúng ta thành một con người của Tịnh độ. Sự chuyển hóa này ngày xưa các tổ Tịnh độ ví như “gạch ngói vụn được biến thành vàng ròng” vì “trong Tịnh độ tất cả trời người sắc tướng đều một màu vàng ròng” (lời nguyện thứ 3).
Chúng ta cần nhắc lại một lần nữa, sự chuyển hóa không chỉ xảy ra ở nơi cõi Tịnh độ mà đã và đang xảy ra ngay tại đây và lúc này. Sự chuyển hóa “gạch ngói vụn thành vàng ròng”, “sắc tướng con người đồng thành một màu vàng ròng” phải được thiết lập ở đây và lúc này, nghĩa là kinh nghiệm về Tịnh độ và Phật A Di Đà phải được cảm nhận nơi mình ở đây và lúc này.
Để minh họa cho đời sống của đức tin hiện sinh này, chúng ta đọc một vài mẩu chuyện của Shoma (1799-1871) trích từ The Essence of Buddhism của D.T. Suzuki :
Có lần Shoma viếng một ngôi chùa quê. Vừa vào chánh điện, anh thõng chân nằm dài trước tượng A Di Đà. Một người trách anh vô lễ, thất kính, anh trả lời:
“Tôi vào đây là trở về nhà cha mẹ tôi, còn anh bắt bẻ tôi như vậy chẳng qua anh chỉ là người ngoài gia đình này thôi”.
Có lẽ sống trong lòng đại bi bổn nguyện của Phật A Di Đà là như vậy.
Có lần Shoma cùng các bạn đi trên một chiếc thuyền buồm, gặp lúc gió lớn sóng to như muốn nhận chìm thuyền. Mọi người quên hết việc niệm Phật mà chỉ biết van vái lung tung. Trong khi ấy, Shoma nằm ngủ cho đến lúc người ta đập anh dậy, anh dụi mắt hỏi:
“Tôi có còn trong thế giới Ta bà không?”
Có lần anh làm việc ngoài đồng, mệt bèn về nhà nghỉ. Gió mát khiến anh nhớ đến Phật A Di Đà. Anh liền mang tượng ra đặt bên cạnh nói: “Ngài ngồi đây hóng mát nhé!”.
Một hôm giữa đường mắc bệnh, bạn bè mướn người võng anh về nhà, rồi dặn dò:
“Nay anh đã về quê rồi, hãy nghỉ yên và tạ ơn A Di Đà“, Shoma đáp: ”Cám ơn, nhưng tôi bệnh ở đâu thì chỗ đó là Tịnh độ của tôi, sát ngay bên cạnh tôi”.
Có lần nghe người nói về hoạt động truyền giáo của một tôn giáo khác, Shoma nói:
“Không gì tốt hơn là phàm phu thành Phật”.
Khi có người hỏi làm sao giữ tròn được cuộc sống sau khi chết, Shoma đáp:
“Việc ấy để A Di Đà lo liệu, đó không phải là chuyện của tôi”.
Chúng ta thấy một con người, bằng đức tin và niệm danh hiệu, đã gắn được cuộc đời mình với bổn nguyện của A Di Đà, và như thế, dù thân còn ở đây chưa về đến Tịnh độ nhưng tâm đã có phần dự vào trong Tịnh độ, trong Pháp thân, Báo thân và Hóa thân của Phật A Di Đà để xóa tan khoảng cách giữa Ta bà và Tịnh độ, giữa sinh tử và Niết bàn.
Có thể tóm lại, sống trong bổn nguyện là giao phó, đưa hết thẩy thân tâm tùy thuận với công việc đại bi bao la vô tận của Phật A Di Đà, một thân tâm quy y vào Phật A Di Đà như vậy thì thanh tịnh để có thể phát khởi đức tin trông cậy vào A Di Đà và công việc của Ngài. Thân tâm hữu hạn và khuyết điểm đó chìm ngập trong thực tại của A Di Đà là Trí tuệ và Đại bi phổ trong 48 lời nguyện, đây là tiền đề để sinh về Tịnh độ. Nhưng trước khi thân tâm đi về trung tâm điểm đích đến của nó là Tịnh độ, thì ngay ở đây và lúc này, nơi thế giới này, chúng ta đã hưởng được những phần công đức của Tịnh độ.


Nguyễn Thế Đăng

ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ LÀ AI?

ĐỨC PHẬT A-DI-ĐÀ LÀ AI?


Trong cuộc sống hàng ngày của dân gian, chúng ta rất quen thuộc với nhóm từ “Nam mô A Di Đà Phật” Vậy nhóm từ đó có ý nghĩa là gì? Muốn hiểu tường tận ý nghĩa nhóm từ đó, chúng ta phải có một trình độ khá cao về khoa học.
Nam mô có nguồn gốc là từ Namah (tiếng Phạn) hoặc  Namo (tiếng Pali) có nghĩa quy y, kính lạy, quy phục, đem mình về với. Nam mô A Di Đà Phật (    , chú ý chữ phải đọc là mô chứ không phải vô) là Hán dịch từ tiếng Phạn Namah Amitabhàya buddhàya  có nghĩa là quy y Đức Phật A Di Đà.
A Di Đà (zh. 阿彌陀) là danh từ phiên âm có gốc từ hai chữ trong tiếng Phạn: amitābha amitāyus. 
Amitābha dịch nghĩa là “vô lượng quang” – “ánh sáng vô lượng”; amitāyus có nghĩa là “vô lượng thọ” – “thọ mệnh vô lượng”.
A Di Đà được thế gian hình tượng hóa thành vị Phật của thế giới Tây phương cực lạc, nơi chỉ có vui mà không có khổ.

Hình Đức Phật A Di Đà

Vô lượng quang biểu hiện ý nghĩa không gian vô tận, cùng khắp không gian. Vô lượng thọ biểu hiện thời gian vô cùng, thời gian không giới hạn. Các ý nghĩa này là muốn hiển thị Tâm linh bất nhị của Đạo Phật. Bất nhị cũng không phải là một, mà là không có số lượng. Cùng khắp không gian, cùng khắp thời gian và không có số lượng, đó mới là ý nghĩa thực sự của danh xưng A-Di Đà tức là vô lượng quang, vô lượng thọ. Cùng khắp không gian, cùng khắp thời gian, không có số lượng cũng có nghĩa là không có không gian, không có thời gian, không có số lượng, đó là vì Tâm như hư không vô sở hữu hay Phật tánh bất nhị, bất biến, bất sinh bất diệt, cũng có nghĩa là Niết Bàn (Nirvana).
Phật (Buddhàya) không phải là một vị thần linh, mà chỉ là một người giác ngộ, tự mình thân chứng bản tâm bất nhị là bản thể của vũ trụ vạn vật. Kinh điển Phật giáo nói rằng khi Đức Phật Thích Ca ngộ đạo dưới gốc cây bồ đề, thì các thần thông, là những thuộc tính vốn có của tâm giác ngộ, hiện ra đầy đủ, nên:  Về mặt không gian Ngài nhìn thấy suốt cả Tam thiên đại thiên thế giới, còn gọi là Tam giới tức là Ba cõi thế giới, bao gồm Dục giới [ sa.(tiếng sanskrit) kāmaloka,  thế giới mà chúng ta đang sống]; Sắc giới [色界, sa. rūpaloka thế giới cõi trời nơi chúng sinh có thọ mạng lâu dài hơn cõi thế gian]  và Vô Sắc giới [無色界, sa.arūpaloka, thế giới nơi chúng sinh không còn thân thể vật chất mà chỉ còn tinh thần, ý thức].
Về mặt thời gian, Ngài nhìn thấy suốt cả quá khứ vị lai không có bắt đầu, không có kết thúc. Về mặt số lượng, Ngài nhìn thấy vô lượng vô biên thế giới, vật thể, chúng sinh, không phân biệt lớn nhỏ, từ vũ trụ bao la đến thế giới vi mô của những vật thể cực kỳ nhỏ bé mà ngày xưa không có danh từ diễn tả, nên tạm gọi là vi trần (hạt bụi nhỏ). Thật ra Ngài nhìn thấy cả thế giới hạ nguyên tử (Sub Atomic) thấy cả những vật thể như hạt quark, electron, neutrino. Cái thấy đó vô cùng siêu việt, Ngài nhận ra cả những khoảnh khắc thời gian cực ngắn gọi là sát-na nhiều lần nhỏ hơn một giây đồng hồ (second). Đó gọi là chánh biến tri, biết cùng khắp không gian thời gian.

Vì sao cái biết lại tuyệt đối như vậy? Bởi vì Thích Ca chính là Tâm bất nhị, chính là Tam giới.
Bộ Kinh Thành Duy Thức Luận (成唯識論) của ngài Huyền Trang dịch, đã tổng kết: “Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức” Tức là cái vũ trụ tưởng đâu là ở bên ngoài, độc lập khách quan, cũng chỉ là biến hiện của Tâm mà thôi. Cái tâm linh giác ngộ đó, mọi chúng sinh đều có  sẵn, và không hề thua kém chút nào so với Phật Thích Ca, bởi vì đều chung một Tâm bất nhị, nhưng vì mê muội chạy theo thế giới vật chất nhỏ bé tầm thường, chúng không “ngộ” được mà thôi, và vì không giác ngộ nên chúng trôi lăn trong vòng sinh tử luân hồi đầy đau khổ. Đức Phật thấu hiểu tính chất trống rỗng của nguyên tử vật chất, một điều mà phải đến cuối thế kỷ 20, nghĩa là 25 thế kỷ sau thời Đức Phật, những nhà bác học hàng đầu của nhân loại mới hiểu, khi họ khám phá ra hạt quark với đặc tính lạ lùng.

Một hạt quark đơn lẻ không tồn tại, phải 3 hạt quark hợp lại mới thành lập được hạt proton hoặc hạt neutron, đây là 2 thành phần của hạt nhân nguyên tử. Rồi các điện tử (electron) xoay quanh hạt nhân tạo thành nguyên tử vật chất, rồi các nguyên tử của 4 loại nguyên tố C, H, O, N  tạo thành các phân tử hữu cơ, từ đó hình thành sinh vật và con người. Nhưng quark và electron cũng như tất cả mọi hạt cơ bản khác (subatomic particles) cũng chỉ là hạt ảo. Do đó cái vũ trụ hình thành từ hạt ảo chỉ có trong tâm tưởng chứ không phải sự thật khách quan ở bên ngoài. Chính vì Đức Phật hiểu bản chất trống rỗng của nguyên tử, Ngài mới đưa ra thuyết triết học tánh không Śūnyatā (Emptiness) của vạn vật. Tại sao từ bản chất là không lại xuất hiện thế giới, vũ trụ, vạn vật ? Đó là do trùng trùng duyên khởi, sự kết hợp có điều kiện mà hạt nhân đầu tiên lại không thể khẳng định, chẳng hạn một hạt quark thì không tồn tại, nhưng 3 hạt quark hợp lại thì xuất hiện hạt proton hoặc hạt neutron, để rồi từ đó hình thành nguyên tử và vạn vật. Đức Phật tạm đưa ra thuyết “thập nhị nhân duyên” để giải thích sự hình thành của vật chất và sinh vật trong đó có con người. Ngày nay với việc phát minh ra máy vi tính, con người đã chứng minh một cách rõ ràng rằng những hiện tượng ảo trên màn hình vi tính như : hình ảnh, màu sắc, âm thanh, chữ viết v.v… chỉ là trùng trùng duyên khởi của điện tử (electron) quy về hai trạng thái của dòng điện, có dòng điện chạy qua (số 1), không có dòng điện chạy qua (số 0), từ đó hình thành kỹ thuật số theo hệ thống nhị phân, và phát triển thành công nghệ thông tin với vô số ứng dụng như hiện nay.

Trở lại với thế giới đời thường, Đức Phật thấy rằng tất cả sơn hà đại địa, nhà cửa lâu đài, vạn vật, con người đều chỉ là nhân duyên (sự kết hợp có điều kiện) của cái không (trống rỗng không là gì cả, cái hư không vô sở hữu (không phải là sự thật tuyệt đối). Chỉ có cái bản tâm bất nhị, bất biến, bất sinh bất diệt, vô ngã (không phân biệt ta và người), vô lượng (không có số lượng), tuyệt đối (vô phân biệt, không có các cặp phạm trù mâu thuẫn) mới đích thực là mình, tất cả chúng sinh đều có chung một tâm đó. Vì thế Ngài nói rằng: tất cả chúng sinh đều là Phật đã thành (chứ không phải sẽ thành) bởi vì cái bản tâm đó đã sẵn có (trước khi vũ trụ được thành lập) chỉ cần buông bỏ cái tâm nhỏ hẹp, mê muội, chấp trước (không phải là mình thật) để hòa nhập vào cái tâm vô lượng quang, vô lượng thọ (tức A Di Đà), cái đó còn gọi là Niết Bàn 涅槃, sa. nirvāṇa tức là bất sinh bất diệt hay là không còn sinh diệt (diệt tận 滅盡).
Những kiến giải của Đức Phật về thế giới đã được các nhà khoa học hàng đầu thế giới hiện nay thừa nhận. Kể sơ như sau:
Niels Bohr (1885-1962, nhà vật lý người Đan Mạch, giải Nobel vật lý 1922)  nói “Isolated material particles are abstractions” (Hạt vật chất cơ bản cô lập thì trừu tượng- tức không phải vật thật).
Heisenberg, (1901-1976 nhà vật lý lý thuyết người Đức người phát minh ra nguyên lý bất định _không thể đồng thời xác định vị trí và vận tốc hay động lượng của một hạt, ví dụ electron) nói: “Atoms and elementary particles…form a world of potentialities or possibilities, rather than one of things or facts…atoms are not things” (Nguyên tử và các hạt cơ bản…hình thành một thế giới tiềm thể hay có khả năng hiện hữu, chứ không phải một thế giới của vật thể hay sự vật có thật…Nguyên tử không phải là vật)
Von Neumann (1903-1957 nhà toán học người Mỹ gốc Hungary, có nhiều đóng góp cho vật lý lượng tử và khoa học máy tính) phát biểu : “Nothing would be real unless consciousness exists, that all real things are constituents of consciousness – which is a complete reversal of materialism”  (Không có cái gì là thật trừ phi ý thức hiện hữu, tất cả vật thật đều cấu thành từ ý thức - điều này hoàn toàn trái ngược với chủ nghĩa duy vật).
Eugene Wigner (1902-1995 nhà vật lý và toán học người Hungary, giải Nobel vật lý năm 1963) viết: “The very study of the external world led to the conclusion that the content of the consciousness is an ultimate reality. Particles only exist when observed, and so the reality of particles entails that consciousness is a fundamental element of reality” (Càng nghiên cứu thế giới bên ngoài, càng dẫn tới kết luận rằng nội dung của ý thức là thực tại tối hậu. Hạt chỉ hiện hữu khi được quan sát, và như thế thực tại của hạt bắt buộc rằng ý thức là yếu tố cơ bản của thực tại)
Stephen Hawking (nhà toán học và vật lý người Anh, hiện mang chức danh Giáo sư Lucasian tức giáo sư Toán học của Đại học Cambridge, chỉ những nhà khoa học xuất sắc như Isaac Newton hay Paul Dirac mới có chức danh này) và Neil Turok (sinh năm 1958 tại Johannesburg, South Africa, Giáo sư Vật Lý của Đại học Princeton, Giám đốc Viện Perimeter về Vật Lý lý thuyết) nói: “The quantum world is one of virtual particles continually fluctuating in and out of existence, even in a vacuum, of superstrings vibrating and twisting in ten or eleven dimensions, most of which are ‘rolled up’ and invisible, of a reality in which gravitation, spacetime and matter are or were merged in one ‘instanton” (Thế giới lượng tử là thế giới của các hạt ảo không ngừng dao động qua lại giữa hiện hữu và cả hư không, của siêu dây rung động và biến dạng trong 10 hoặc 11 chiều kích_ phần lớn những chiều kích ấy bị cuốn lên và vô hình_của một thực tại trong đó lực hấp dẫn, thời không, và vật chất, được hoặc đã được kết hợp lại trong ‘sát-na hiện tiền’).
Thế giới lượng tử (quantum world) là thế giới nào? Đó cũng chính là thế giới vật chất, sinh học và tâm lý mà chúng ta đang sống chứ chẳng phải thế giới nào khác. Vấn đề không gian, thời gian, số lượng là không có thật, cũng được hiện tượng rối lượng tử chứng minh một cách rõ ràng, cụ thể và chắc chắn.
Hiện tượng rối lượng tử (quantum entanglement) mới được khoa học chứng thực gần đây (thí nghiệm của Alain Aspect đầu thập niên 1980 và của Nicolas Gisin năm 2008) là thực nghiệm tiêu biểu xác nhận tính tương đối của không gian, thời gian và số lượng, tức là cả ba đại lượng trên đều không độc lập tồn tại. Hiện tượng rối lượng tử là hiện tượng các hạt cơ bản như photon, electron, proton, neutron, và kể cả nguyên tử, có thể xuất hiện đồng thời tại hai hoặc nhiều vị trí khác nhau, khiến người quan sát không thể xác định chúng là một hạt cùng lúc ở nhiều vị trí, hay là nhiều hạt giống hệt nhau ở tại các vị trí khác nhau. Nhưng điều quan trọng là nếu có sự biến đổi của một hạt ở vị trí này thì tất cả các vị trí khác đều biến đối y hệt, tức thời, bất kể khoảng cách bao xa. Nicolas Gisin, nhà vật lý của Đại học Geneve phát biểu: “điều thú vị ở đây là tự nhiên có thể tạo ra các sự kiện cùng xuất hiện ở nhiều địa điểm”
Năm 2002, nhà vật lý Australia gốc Trung Quốc Ping Koy Lam cùng cộng sự tại Đại học Quốc gia Australia ở Canberra (ANU) đã thực hiện thành công thí nghiệm chuyển thông tin theo nguyên lý hoàn toàn mới dựa trên “tương tác ma quỷ” (spooky action at a distance) tức hiện tượng rối lượng tử, của các quang tử (photon). Đúng vào lúc một chùm laser chứa những dữ liệu thông tin nhất định bị huỷ tại một vị trí trong phòng thí nghiệm, thì nhóm của Lam đã thấy xuất hiện một chùm laser khác giống hệt như thế tại một vị trí khác cách vị trí ban đầu 1 mét. Mặc dù chùm sáng không hề chuyển động từ điểm này đến điểm kia nhưng vì hai chùm sáng giống hệt nhau nên người quan sát có cảm tưởng rằng, chùm sáng đã được di chuyển tức thời, từ điểm này đến điểm kia.
Trong một thí nghiệm khác gần đây hơn, năm 2008, các nhà khoa học tại Geneve, Thụy Sĩ tạo ra những cặp photon hoặc các gói ánh sáng. Chúng được chia ra rồi truyền qua cáp quang được Swisscom cung cấp, đến hai trạm tại hai ngôi làng thuộc Thụy Sĩ cách nhau khoảng 11 dặm (18 kilômét). Các trạm khẳng định rằng từng cặp photon vẫn kết nối với nhau – bằng cách phân tích một photon, các nhà khoa học có thể dự đoán tính chất của photon kia. Hai photon đã tương tác với nhau một cách tức thời. Nếu cho rằng hai photon đã chuyển tín hiệu cho nhau thì tín hiệu đó phải di chuyển với tốc độ không tưởng, gấp hàng vạn, hàng triệu lần tốc độ ánh sáng.
Hiện tượng rối lượng tử xác định rõ ràng rằng không gian, thời gian và số lượng là không có thật, các đại lượng này chỉ phát sinh trong tâm thức của người quan sát khi có đủ điều kiện. Khoa học hiện đại hiểu rằng người quan sát có vai trò quan trọng trong việc hình thành các hiện tượng. Nhận thức này đối với giới khoa học là mới, nhưng đối với Phật giáo thì không mới vì đã được nói tới từ lâu trong kinh điển.
Ngày nay chúng ta chẳng những giải ngộ được không gian, thời gian, số lượng là không có thật mà còn thực nghiệm được, nhờ vào thế giới ảo của điều khiển học (cybernetics) và internet. Chẳng hạn những dòng chữ này, bài viết này, có thể đến với các bạn ở bất cứ nơi nào trên thế giới, bất cứ lúc nào, không tùy thuộc vào vị trí mà bạn đang ngồi (nghĩa là khoảng cách không gian không có thật) miễn có đủ nhân duyên.
Nhân duyên là bạn có một máy vi tính nối mạng hoặc một thiết bị cầm tay (laptop, netbook, smartphone, ipad hoặc máy tính bảng, có hỗ trợ wifi hoặc 3G). Bạn hoàn toàn có thể đọc bài viết, nghe audio, xem video. Tất cả vô ngại.
Tuy nhiên, thực tế vẫn có thể trở ngại khi wifi hoặc 3G không đủ mạnh, hoặc thiết bị không hỗ trợ đầy đủ. Điều này cũng giống như chúng sinh bị vô minh, sở tri chướng che khuất, không diệu dụng được đầy đủ khả năng như Đức Phật, không phải vì khả năng kém hơn Đức Phật, chỉ vì bị quá nhiều che khuất.
Song bởi vì đa số chúng sinh không đủ lòng tin ở tự tâm của mình là Phật, là giác ngộ, vì đã nhiều đời nhiều kiếp sống trong mê lầm, giống như một kẻ bần cùng rách rưới, lê tấm thân nghèo khổ đi ăn mày, không biết, không tin rằng trong người mình có một viên ngọc như ý vô cùng quý giá, muốn gì được nấy, nên không thể đem ra dùng.
Do đó Đức Phật mới bày ra tám vạn bốn ngàn pháp môn để thích ứng với từng loại căn cơ mê muội của chúng sinh, trong đó có pháp môn Niệm Phật còn gọi Tịnh Độ Tông (淨土宗 chữ trường hợp này đọc là độ, không đọc là thổ) người tu cứ niệm Nam mô A Di Đà Phật để cầu vãng sinh về cõi giới Tây phương cực lạc của Phật A Di Đà, cõi giới đó không còn sinh tử luân hồi, nên chúng sinh được an tâm tu hành cho đến giác ngộ.
Thật ra đó chỉ là một thứ Hóa Thành Dụ (một tòa thành ảo giả lập để dẫn dắt người tu vào tạm trú vì đường đi quá xa) chứ không phải cứu cánh đích thực, bởi vì ngay danh xưng A Di Đà đã cho thấy chỗ đến là tâm giác ngộ cùng khắp không gian thời gian, A Di Đà không phải là ai xa lạ, chính là bản tâm của mỗi người.

Truyền Bình