Blogroll

Showing posts with label Tổ sư Thiện Đạo. Show all posts
Showing posts with label Tổ sư Thiện Đạo. Show all posts

Thursday, June 30, 2016

SỰ TÍCH VÀ HỌC THUYẾT CỦA ĐẠI SƯ THIỆN ĐẠO



SỰ TÍCH VÀ HỌC THUYẾT CỦA ĐẠI SƯ THIỆN ĐẠO 


Nguyên Tác: Lý Thế Kiệt
Việt dịch: Thích Tâm Đại



I. Sự Tích:

Đại sư Thiện Đạo là người Tứ Châu, tỉnh An Huy, sanh vào năm thứ chín, niên hiệu Đại Nghiệp đời nhà Tuỳ (theo Tây Lịch là năm 613). Ngài xuất gia từ thời niên thiếu và xem thấy bức tranh cảnh Tây phương quá cảm mến, nên ước mong sớm vãng sanh về cảnh Tịnh độ. Sau khi thọ giới với luật sư Diệu Khai, ngài cung kính đọc kinh Quán vô lượng thọ, biết được cửa ngõ của kinh này là pháp giải thoát sanh tử. Giữa năm Trinh Quán đời nhà Đường, ngài đến Tinh Châu (huyện Dương Khúc, tỉnh Sơn Tây) lễ bái yết kiến đại sư Đạo Xước, cầu học pháp môn niệm Phật vãng sanh. Sau đó ngài vào Trường An, độ khắp dân chúng, viết hết hàng vạn quyển kinh A-di-đà, vẽ ba trăm bức tranh cõi Cực lạc Tịnh độ. Ban đầu, ngài ở núi Chung Nam (huyện Trường An, tỉnh Thiểm Tây), luôn luôn đến chùa Quang Minh để thuyết pháp. Lúc tuổi già, Ngài ở chùa Thật Tế (huyện Trường An), đồng thời quản lý kiến tạo hang động ở chùa Phụng Tiên tại núi Long Môn. Đại sư là một con người hộ trì giới pháp, chưa từng đưa mắt dòm người nữ, tâm không nghĩ về danh lợi. Hàng ngày, ngài khất thực để sống, mặc áo xấu ăn cơm hẩm, tu hành phạm hạnh. Còn đối với mọi người, ngài luôn mở lòng từ bi, thương yêu tha thứ. Về chính mình thì lòng tin vững chắc bất thối chuyển. Lúc ở chùa Tây Kinh, ngài cùng pháp sư Kim Cang bàn luận hơn kém của việc niệm Phật. Ngài Thiện Đạo nói: “Niệm Phật vãng sanh, nếu quả lời nói chân thật thì các tượng Phật trong nhà phải phóng hào quang; giả như là lời nói hư vọng thì tôi đọa vào địa ngục”. Khi ấy, các tượng Phật trong nhà phóng hào quang, sự việc này trở nên rất nổi tiếng. Cả trung tâm Trường An, mọi người đều được ngài cảm hoá nhiều không kể. Trong số đó, có người nhìn tranh mà được xả thân vãng sanh, cũng có người leo lên trên cây liễu trước chùa nhảy xuống rồi vãng sanh. Đây là sự việc mà lúc đó ngài Đạo Tuyên đã gần gũi nghe biết. Trong truyện Tân tu vãng sanh cũng dẫn chứng: “Tăng, Ni ở các châu trong nước Trung Hoa, có người từ đỉnh núi cao nhảy xuống, có người nhảy vào suối sâu, có người từ trên cây cao rớt xuống, có người đốt thân cúng dường … Đây là số ít người trong số hơn một trăm người”. Lúc đó, sự cuồng nhiệt của tín ngưỡng do đây có thể thấy được. Về sự nhập diệt của Ngài có hai thuyết: một thuyết là xả thân vãng sanh (tộc họ, nơi sanh đều không rõ); một thuyết nói ngài là người Lâm Truy, viên tịch vào ngày 14 tháng 3, năm thứ 2 niên hiệu Vĩnh Long, đời Đường Cao Tông (Tây Lịch 682), hưởng thọ 69 tuổi. Theo thuyết trước, ngài Thiện Đạo hoá thân, theo thuyết sau chính là ngài Thiện Đạo. Sau khi ngài Thiện Đạo viên tịch, Hoài Uẩn xây dựng Bảo tháp của ngài ở phía nam thành Trường An, bên cạnh tháp là một ngôi Già Lam, xung quanh tháp có trồng những cây thơm cỏ lạ và tứ sự cúng dường luôn luôn đầy đủ.

Các loại sách mà đại sư trước tác, hiện còn có sáu bộ mười quyển, chính là: bốn quyển Quán kinh sơù, một quyển Vãng sanh lễ tán ký, hai quyển Pháp sự tán, một quyển Bát-chu tán, một quyển Quán niệm pháp môn, một quyển Y kinh minh ngũ chủng tăng thượng duyên nghĩa v.v… . Trong này, Quán kinh sớ có một tên gọi nữa là Tứ thiếp sớ, quyển này do bốn quyển: Huyền nghĩa, Tự phần, Định thiện, Tán thiện mà hợp thành. Huyền nghĩa là nói rõ đề kinh và giáo tướng của sự xem kinh, ba quyển từ Tự phần trở xuống là giải thích lời văn của kinh. Quán kinh sớ là phần giải nghĩa, còn bốn bộ sách khác là phần hành nghĩa.




II. Học Thuyết:

Từ triều đại nhà Tuỳ trở về sau, luận thuyết về Tịnh độ Di-đà đại khái không vượt ra ba loại tư tưởng:

Thứ nhất, là lấy Tịnh độ làm cõi Tịnh, Thô để dung chứa phàm phu vãng sanh, đây là các chủ xướng của ngài Huệ Viễn, Trí Khải, Cát Tạng v.v…

Thứ hai, là lấy Tịnh độ làm Báo độ, mà cự tuyệt sự vãng sanh của phàm phu, đây là chủ trương của luận sư Nhiếp luận tông.

Thứ ba, là lấy Tịnh độ chia ra làm hai thứ Báo độ và Hoá độ. Thánh nhơn chứng từ bực Sơ địa trở lên thì sanh vào Báo độ. Hàng phàm phu, Nhị thừa thì sanh vào Hoá độ, đây là sự sáng lập của đại sư Ca Tài, Đạo Thế, Nguyên Hiểu v.v… Do đây mà thấy được sự vãng sanh vào Báo độ của phàm phu thì cả ba thuyết trên đều không có nhận định về việc này, đây là căn cứ nơi Tịnh độ mà kết luận về việc kiến giải nghiệp cảm của tự thân. Tịnh độ chúng sanh của ngài Huệ Viễn … tuỳ theo mỗi nghiệp chiêu cảm mà sanh vào cõi Tịnh độ đẹp hay xấu, đối với việc này có một vài kiến giải. Còn đại sư Thiện Đạo thì kiên quyết chủ xướng phàm phu vào hết cõi Báo độ. Vì vậy ngài phát huy hết bổn chỉ của lập giáo Tịnh độ, ngài dùng Tịnh độ Tây phương làm hạnh nguyện để chứng đắc vào quả vị Phật. Vì ngài xây dựng chủ nghĩa hoàn toàn không chứa nghiệp cảm của tự thân chúng sanh, Thánh phàm thiện ác đều có thể nhập vào Báo độ nhứt muội. Còn sức bổn nguyện của Như Lai thì rất mạnh mẽ, vì Phật nguyện làm duyên lớn (lấy cái này làm Tăng thượng duyên) nên hàng Ngũ thừa đều có thể vào Báo độ. Do tư tưởng này mà tất cả chúng sanh đều có hy vọng. Vì đức A-di-đà sẽ cứu độ tất cả đối tượng phàm phu tội ác. Đối với người phàm phu tội ác thì đức Di-đà dùng sức nguyện lực rất lớn cứu độ họ. Cho nên phàm phu nhờ nguyện lực dõng mãnh của đức Phật, được thâu nhiếp vào hào quang nguyện lực của ngài. Đây mới là bổn chỉ của sự tha lực. Ngài lại nói: “Phật đã nói tám mươi bốn ngàn pháp môn là thích hợp với giáo nghĩa của thời đại chánh pháp và tượng pháp. Ở trong hiện tại thời đại mạt pháp, rất thích hợp với phương pháp Niệm Phật vãng sanh, đây là pháp môn cần thiết cho hàng phàm phu trong đời ác ngũ trược”. Tịnh độ giáo là pháp môn Thời giáo tương ứng1, đề xướng hai điểm phàm phu nhập Báo độ và Thời giáo tương ưng, là cơ sở giáo hoá tinh thần của ngài Thiện Đạo.

Trở lại điểm thứ ba, có một vấn đề cần giải quyết đó là sự vãng sanh vào Báo độ của phàm phu. Do nơi sức bổn nguyện của Như Lai, tuy là có thể được việc ấy nhưng con người phải có đủ điều kiện dựa vào bổn nguyện, chính là nói đầy đủ ba Tâm, Hành khởi và Tác nghiệp mới có thể vãng sanh về Tịnh độ.

Ba Tâm đó là: An tâm, Thâm tâm và Hồi hướng phát nguyện tâm.

An tâm còn gọi là tâm chí thành, nghĩa là tâm chân thật, tâm không hư vọng.

Thâm tâm là có niềm tin vững chắc. Tin có hai thứ, đó là tin cơ và tin pháp. Tin cơ, tin mình là hàng phàm phu có tội ác, cũng không vượt ra khỏi ý nghĩ về duyên của con người. Tin pháp có hai thứ là: con người tạo ra niềm tin và thực hành theo niềm tin đó. Con người tạo ra niềm tin là phải tin sâu xa vào đức Phật Di-đà và Phật Thích Ca một cách chắc chắn. Tin bổn nguyện của đức Phật Di-đà, một ý nghĩ cũng không có tâm nghi hoặc. Còn thực hành theo niềm tin đó là đối với việc niệm Phật vãng sanh không bao giờ nghi ngờ, mà phải suy nghĩ chắc chắn vào niềm tin sâu xa.

Hồi hướng phát nguyện tâm là dùng tất cả thiện căn vào việc thực hành, là ý nghĩa đem tâm hồi hướng nguyện sanh về Tịnh độ. Hồi hướng có hai thứ: Vãng tướng và Hoàn tướng. Vãng tướng có nghĩa là cầu sanh vào Tịnh độ. Hoàn tướng có nghĩa là sau sẽ trở lại giáo hoá chúng sanh.

Hành khởi là hành động của ba nghiệp thân, khẩu, ý.

Tác nghiệp là giữ theo bốn sự tu tập, thân thì lạy đức Di-đà, miệng thì niệm danh hiệu Di-đà, ý thì tưởng trang nghiêm về đức Phật Di-đà và cõi Tịnh độ.

Hành chia ra làm hai thứ: Chánh hành (lễ bái, tán thán, quán sát, đọc tụng, xưng danh) và Tạp hành (ngoài các thứ đó). Chánh hành gọi là Chánh nghiệp, bốn cái khác là Trợ nghiệp hay còn gọi là Hành bổn nguyện sanh nhân, tên gọi này có ý nghĩa là chuyên niệm và thấy Phật. Tác nghiệp có bốn thứ: Cung kính (là phép lễ bái một cách cung kính, ân trọng), Vô dư (chuyên tu về xưng danh hiệu, chuyên tưởng về cõi Tịnh độ), Vô gián (tâm thực hành liên tục không gián đoạn), Trường thời (tâm thực hành không thối lui, luôn luôn tương tục).

Đây là vấn đề quan trọng mà ngài giảng dạy, nghiên cứu rõ ràng, xin mọi người xem thêm Quán kinh sớ và các sách khác của ngài. Đại sư lấy Tịnh độ giáo làm giáo lý thiết thực phổ biến, cũng tương ứng với Thời giáo, vượt ra khỏi pháp môn giải thoát. Ngài có lòng tin sâu xa vào đại nguyện của Phật mà hoằng hoá cứu độ tất cả chúng sanh. Hàng phàm phu có niềm tin nhập vào Báo độ và có niềm tin sâu xa, tin cơ, tin pháp … đều là do sự hiểu biết trôi chảy, niềm tin mãnh liệt và sự thể nghiệm của ngài. Sự cảm hoá của ngài không phải là việc tầm thường, đồng thời các học thuyết của ngài cũng là giáo lý điển hình thay cho Tịnh độ giáo, có thể nói ở giáo lý và sử sách của Tịnh độ giáo thì ngài là nhân vật cao nhất.




Tác giả viết tại Đài Loan ngày 25/8/1943


Saturday, April 12, 2014

Những vị Bồ Tát khai sáng Tịnh Độ (Phần 5) - THIỆN ĐẠO tổ sư

THIỆN ĐẠO tổ sư

       



          Cao tăng Trung quốc, Thiện Đạo đại sư, đời nhà Đường, người ở Lâm Truy, tỉnh Sơn Đông. (thuyết khác nói là huyện Hu Di tỉnh An Huy) hiệu Chung Nam đại sư, họ Châu. Sư là tổ thứ ba của tông Tịnh-độ, cũng tức là người tập đại thành phái Đàm Loan, phái Đạo Xước thuộc tông Tịnh-độ.
          Lúc ấu niên, sư xuất gia với pháp sư Minh Thắng ở Mật châu, tụng các kinh Pháp Hoa, Duy-ma. Về sau, nhân được đọc kinh Quán Vô Lượng thọ, vô cùng xúc cảm, buồn vui lẫn lộn, sư liền tu Thập Lục Quán. Năm 641 đời Đường sư đến chùa Huyền Trung ở Tây Hà, yết kiến ngài Đạo Xước, tu học Phương Đẳng Sám Pháp và nghe giảng kinh Quán Vô Lượng Thọ. Vào những năm Trinh Quán, nhân đọc baì văn Tịnh-độ “Cửu Phẩm Đạo Tràng” của Đạo Xước thiền sư ở  Tây Hà, ngài rất mừng bảo: “Đây mới thật là cánh cửa mầu nhiệm để đi vào cảnh giới chư Phật. Nếu tu theo những hạnh nghiệp khác thì quá vời xa, quanh quất, mông lung,  khó thành tựu được gì, chỉ có pháp môn này mới thật là mau chóng thoát ly sanh tử!”
          Từ đó, ngài siêng năng khổ luyện sớm hôm bằng cách lễ bái tụng niệm. Không lâu sau, chứng được Niệm Phật Tam-muội, ở trong định thấy cảnh trang nghiêm của Tịnh độ. Sau sư đến chùa Quang Minh ở Trường an truyền bá pháp môn Tịnh Độ. Sư hành trì tinh nghiêm, hằng ngày thường chấp tay ngồi kiết-dà theo kiểu Ấn-độ, nhất tâm niệm Phật, đến khi kiệt sức mới thôi.
          Ngài lại đến kinh đô khuyến khích các vị tỳ-kheo, tỳ-kheo-ni, và nam nữ cư sỹ tại gia cùng nhau niệm Phật. Mỗi khi ngài nhập thất quỳ niệm Phật, nếu chưa đến lúc kiệt sức thì cương quyết không chịu lui nghỉ. Lúc chấm dứt kỳ kiết thất, ngài lại vì đại chúng mà diễn giảng pháp môn Tịnh-độ. Hơn ba mươi năm, không có chỗ ngủ nhất định nào khác, không nhìn ngó người nữ, cũng không nhận sa-di lễ bái, tránh xa danh lợi, không thọ nhận sự cúng dường, đại sư vừa hóa đạo vừa chuyên tu, chưa từng biếng trễ.
          Hằng ngày, thường nghiêm trì giới hạnh không bao giờ sai phạm mảy may. Khi được cúng dường thức ăn ngon quý, ngài đem dâng cho đại chúng, còn riêng phần mình chỉ dùng những vật phẩm bình thường mà thôi. Mọi của cải và tiền bạc mà tín đồ phật tử hiến cúng, đều được ngài dùng để viết chép kinh “Phật thuyết A Di Đà” và họa cảnh Tây Phương Tịnh-độ, rồi đem biếu tặng cho những người tu học niệm Phật. Nếu còn thừa, thì ngài dùng vào việc sửa sang chùa tháp, thắp đèn nối sáng, chứ không hề cất giấu hoặc để dành.
          Khi sư hóa đạo tại các châu ở Kinh Hoa, ngưỡng mộ đức hạnh của Sư, có người phát nguyện tụng kinh A Di Đà từ mười vạn đến ba mươi vạn biến, có người trong thời khóa hằng ngày xưng danh hiệu Phật từ một vạn đến mười vạn biến, có người chứng được Niệm Phật Tam-muội và vãng sanh Tịnh-Độ, có người ẩn thân vào núi cao, sống trong rừng sâu, xả mạng đốt thân. Thời vua Cao Tông, tại Long Mông ở Lạc Dương có tạo lập tượng Phật Lô-Xá-Na, sư đảm nhiệm chức vụ Kiểm Giảo.
          Tông Tịnh Độ do sư xiển dương và xác lập đặc biệt được gọi là Thiện Đạo Lưu, là một trong những điểm đặc sắc của Phật Giáo đời Đường.
          Năm 1909, các học giả người Nhật như Quốc Thụy Siêu tìm được những mảnh rời rạc của Vãng Sanh Lễ Tán Kệ và kinh A Di Đà ở gần Thổ Dụ Câu (Toyuk), là nền cũ của nước Cao Xương (thuộc phía đông Thổ Nhĩ Kỳ). Sau đó lại có thêm văn phát nguyện của sư. Có lẽ là một trong mười vạn quyển kinh A Di Đà do sư viết tay ngày xưa.
          Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ cũng gọi là Quán Kinh Tứ Thiếp Sớ, được truyền đến Nhật bản vào thế kỷ thứ VIII, lưu truyền rất rộng, vị tăng người Nhật là Pháp Nhiên (Nguyên Không) y cứ vào sách này mà sáng lập tông Tinh Độ Nhật bản, đồng thời tôn sư làm cao tổ.                   
          Sư thị tịch vào ngày 14 tháng 3 năm 681 (có thuyết nói ngày 27) thọ 69 tuổi. Đệ tử gồm có: Hoài Cảm, Hoài Uẩn, Tịnh Nghiệp...
          Tác phẩm: Quán Vô Lượng Thọ Phật Kinh Sớ 4 quyển, Tịnh Độ Pháp Sự Tán 2 quyển, Quán Niệm Pháp Môn 1 quyển, Vãng Sanh Lễ Tán Kệ 1 quyển, Bát-chu Tán 1 quyển, Ngũ Chủng Tăng Thượng Duyên Nghĩa 1 quyển.
          Bậc xuất gia cũng như người tại gia đều quy hướng theo đức độ hoằng hóa của ngài rất đông, và người phát tâm niệm Phật rất nhiều, kể đến số hằng vạn. Nhóm này thì tụng kinh A Di Đà từ mười vạn đến năm mươi vạn biến, nhóm kia thì mỗi ngày đêm niệm Phật từ mười ngàn đến một trăm ngàn câu Nam mô A Di Đà Phật. Trong số đó, không thể đếm xiết những người hiện tiền chứng Niệm Phật Tam Muội, lúc lâm chung được xuất hiện điềm lành, minh chứng cho việc vãng sanh thành tựu.
        Có người hỏi:
          - ”Niệm Phật quyết chắc được vãng sanh chăng?”.
          Ngài đáp:
          - ”Nếu như ông dốc trọn lòng tin và thực hành, chắc chắn sẽ được toại nguyện!”
          Nói xong, ngài tự niệm Nam mô A Di Đà Phật, liền có một tia sáng từ trong miệng phóng ra. Liên miên như vậy. Cứ mỗi lần ngài niệm Phật, đều có ánh quang minh dài rộng phóng ra nối nhau không dứt, sáng rực cả chùa. Sự thần dị này truyền đến đế kinh, vua Đường Cao Tôn nghe được bèn vô cùng xúc cảm, liền ban một tấm biển, sắc tặng hiệu chùa là Quang Minh Tự.
          Đại sư có bài kệ khuyên tu niệm Phật như sau:
          Da mồi tóc bạc lần lần
         Lụm cụm bước run mấy chốc
         Dù chất vàng ngọc đầy nhà
         Vẫn khổ suy già bịnh tật
         Dù hưởng khoái lạc ngàn muôn
         Đâu khỏi vô thường chết mất?
         Duy một đường tắt thóat ly
         Chỉ niệm
                   Nam mô A Di Đà Phật!
           Có người chất vấn :
           Sao hòa thượng không dạy quán tưởng kim thân và cảnh giới của Phật, mà lại dạy chấp trì danh hiệu A Di Đà ?
          Ngài đáp rằng:
          Chúng sanh thời nay, bên ngoài thì chướng duyên rất nặng, bên trong thì tâm trí thô tạp, thức thần dễ tán động, mà cảnh Tịnh độ thì vô cùng vi tế, thắng diệu, cho nên, nếu thực hành pháp Quán Tưởng thì khó thành tựu (không thể kham tu nổi!). Vì thế, đức Phật xót thương chúng sanh mà khuyên thẳng nên xưng niệm danh hiệu. Chính vì xưng danh là pháp dễ thực hành, nếu cứ giữ mỗi niệm nối nhau như thế mà hành trì suốt đời, thì mười kẻ xưng niệm chắc chắn mười kẻ được vãng sanh, trăm người xưng niệm hồng danh A Di Đà thì trăm người được về tịnh-độ.
          Tại vì sao thế ?
          Vì không duyên tạp bên ngoài, nên dễ được chánh niệm.  Vì cùng tương ưng với Bản Nguyện của A Di Đà. Vì không trái với kinh giáo. Vì thuận theo lời Phật và chư vị tổ sư chỉ dạy.
          Nếu bỏ việc chuyên nhất tâm ý xưng  niệm danh hiệu Phật, mà tu xen tạp những hạnh khác, thì trong trăm ngàn người chỉ hy vọng được ba bốn kẻ vãng sanh .
          Bởi tại sao?
          - Vì tạp hạnh nên phát sanh tạp duyên, khiến tâm trí dễ bị loạn động, đưa tới việc đánh mất chánh niệm.
          - Vì không phù hợp với Bản nguyện tiếp dẫn của Phật A Di Đà - Vì trái với kinh giáo và lời dạy của Phật, Thánh - Vì sự buộc niệm không nối tiếp nhau. - Vì tâm không thường nghĩ nhớ tới ơn đức bao la của chư Phật.- Vì tuy hành đạo mà thường tương ưng với danh lợi - Vì lòng thường chao đảo, sôi nổi mà hùa theo tạp duyên bên ngoài, làm ngăn trở chánh hạnh vãng sanh của mình và người chung quanh.
               Gần đây, hàng xuất gia cũng như tại gia đã chấp nê những hiểu biết không đồng đều, kẻ thì chuyên nhất tâm ý mà xưng niệm danh hiệu A Di Đà, người thì ưa tu hành tạp nhạp đủ thứ công hạnh khác nhau. Xin khuyên nhắc: Nếu chuyên niệm Phật, tất mười người đều được vãng sanh cả mười. Nếu như tạp tu mà không chí tâm, thì trong ngàn người khó mong được một. Nguyện tất cả quý vị đều nên chín chắn tự suy xét kỹ!
               Lại người niệm Phật đi đứng nằm ngồi, phải cố gắng nhiếp tâm ngày đêm chớ rời danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật, thề quyết giữ đến hơi thở cuối cùng. Như thế  tới  lúc mãn phần, niệm trước vừa thọ chung, niệm sau liền sanh Cực lạc. Từ đây vĩnh viễn hưởng niềm vui pháp lạc vô vi cho đến khi thành Phật, há chẳng đáng mừng ư?
               Đại sư cũng từng dạy phương pháp giữ vững chánh niệm trong lúc lâm chung như sau:
               Người niệm Phật khi sắp mãn phần, muốn được sanh về tịnh độ, thì điểm cần yếu là đừng nên sợ chết. Phải thường nghĩ thân này nhơ nhớp, biết bao đều khôí lụy trói vây! Nếu bỏ được thân huyễn hôi nhơ, sanh về Cực lạc thọ thân kim cương thanh tịnh, sẽ thoát khỏi luân hồi khổ thú, hưởng vô lượng sự an vui. Ví như bỏ chiếc áo cũ rách đổi lấy đồ trang phục quý báu nhất trên đời, còn điều chi đáng thích ý bằng! Nghĩ như thế, buông hẳn thân tâm, không còn lo buồn tham luyến. Lúc vừa có bịnh, liền tưởng đến sự vô thường, một lòng niệm Phât chờ chết. Nên dặn thân thuộc chớ lộ vẻ bi thương, chớ nên cùng bàn việc hay dở trong nhà. Nếu có ai đến thăm, chỉ khuyên nên vì mình mà xưng niệm danh hiệu Phật, tuyệt đối đừng hỏi thăm những chuyện chi khác. Cũng không nên dùng lời dịu dàng an ủi, chúc cho sớm lành mạnh vì đó chỉ là chuyện bông lông vô ích, vô nghĩa. Phải báo trước cho quyến thuộc biết, lúc mình bịnh ngặt sắp chết, đừng rơi lệ thương khóc, hoặc phát tiếng than thở âu sầu, làm kẻ lâm chung rối lọan tâm thần, lạc mất chánh niệm.
               Nói tóm lại, tất cả chỉ giữ một việc xưng danh trợ niệm cho đến khi tắt hơi. Nếu lại được bậc thiện tri thức hiểu rành pháp môn Tịnh-độ, thường đến nhắc nhở, khuyên bảo, thì thật là phước đức biết bao! Nếu giờ phút lâm chung mà biết áp dụng phương pháp này, tất sẽ được vãng sanh không còn nghi ngờ chi nữa.
               Việc vượt qua cửa ải sống chết là điều rất quan hệ, một sự kiện vô cùng lớn lao của kẻ hành trì, phải tự mình gắng sức mới được. Nếu một niệm sai lầm, e nhiều kiếp sẽ chịu khổ lụy, đâu có ai thay thế cho mình được ư? Phải chú ý nghĩ suy và ghi nhớ kỹ!
               Một hôm, đại sư bỗng bảo các đệ tử rằng: “Thân này đáng chán, ta sắp về Tây-phương tịnh độ!”.
               Nói xong, ngài tự leo lên cây liễu trước chùa, chắp tay hướng về Tây mà chúc nguyện rằng: ”Xin Phật và Bồ-tát tiếp dẫn con, khiến cho con không mất chánh niệm. Được sanh về Cực Lạc!”. Nguyện xong, ngài gieo mình xuống nhẹ nhàng như chiếc lá rơi, ngồi kiết-dà ngay thẳng trên mặt đất.

        Đại chúng vội chạy đến xem, thì ngài vừa tắt hơi viên tịch.