Blogroll

Showing posts with label niệm Phật. Show all posts
Showing posts with label niệm Phật. Show all posts

Tuesday, June 28, 2016

QUÁN KINH TỨ THIẾP SỚ



Đời Đường, Thiện Đạo Hòa Thượng tập ký
Hòa thượng Thích Thiền Tâm dịch kinh văn
Thích Pháp Chánh dịch sớ văn
QUÁN KINH
TỨ THIẾP SỚ




Tường Quang Tùng Thư số 9
Phật Lịch 2553, TL 2009


Friday, April 11, 2014

TÔI THEO PHÁP MÔN NIỆM PHẬT (Phần 2)



4.      Thiền tông với Kinh điển Đại thừa

Một số kinh điển đại thừa được một số chư tổ và các vị thiền sư nổi tiếng sử dụng như một trong những yếu chỉ của tông pháp, kim chỉ nam cho con đường tu chứng qua thiền định. Sau đây là bốn bộ Kinh được giới thiền tông truyền tụng: Kinh Lăng Già, King Lăng Nghiêm, Kinh Kim Cang và Kinh Pháp Hoa. Kinh Lăng Già được xem như là Kinh truyền tâm ấn của các chư tổ thiền Tông: Tổ Bồ-đề-đạt-ma sau khi truyền y bát cho Tổ Huệ Khả, Ngài còn trao cho bốn quyển kinh Lăng-già để làm tâm ấn. Cho nên Kinh Lăng-già trong nhà Thiền được coi là một bộ kinh để tâm ấn. Trong bốn bộ kinh này, Kinh Lăng-già, Kinh Lăng nghiêm và Kinh Pháp Hoa cũng đều đề cập đến Pháp tu Niệm Phật Tam Muội hoặc cõi Tây Phương Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà.Trong Kinh Lăng Nghiêm chương năm, 25 vị bồ Tát tự giải cách tu chứng vào càn tuệ địa, Bồ Tát Đại Thế Chí (niệm Phật viên thông) nói, ‘Chỗ bản nhân của con lấy niệm Phật tâm chứng Vô-sinh-nhẫn. Nay ở cõi này nhiếp người niệm Phật về Cõi Tịnh Độ.” (trang 313) Trong khi đó trong Kinh Pháp Hoa ở phẩm 23 (Dược Vương Bồ Tát Bản Sự) Ðức Phật Thích Ca đã đề cập đến cõi Cực Lạc "Sau khi Như Lai diệt độ, năm trăm năm sau, nếu có người nữ nghe kinh điển này, đúng như lời mà tu hành, thời khi ở đây chết liền qua cõi An Lạc, chỗ trụ xứ của đức A Di Ðà Phật cùng chúng Bồ Tát vây quanh, mà sinh trên toà báu trong hoa sen."

5.      Nhân vật thời đại và pháp môn niệm phật

Những chủ thuyết xiển dương pháp môn niệm Phật đều do bởi những thánh nhân kiệt xuất mà hàng Thanh Văn không thể sánh kịp. Quyển luận , “Quê Hương Cực Lạc” luận về thân thế và đạo nghiệp của Bồ Tát và Chư Thánh tăng cho thấy kiến thức vô song của các ngài về Phật học và nhiều lãnh vực khác. Chẳng hạn như Ngài Long Thọ, Ngài Mã Minh, Ngài Pháp Nhiên Thượng Nhân vv là những bậc thánh thấu rõ kinh tạng, trí huệ như hải.

5.1Bồ Tát Long Thọ là người học thức uyên thâm, thông đạt kinh sách Phật giáo lẫn những tôn giáo khác vì thế ngài một thân làm Tổ Sư của tám tông Phật Giáo (cũng là tổ 14 của thiền tông), mà vẫn phát nguyện cầu sanh Tịnh Độ và xiển dương pháp môn Niệm Phật.

5.2Ngài Mã Minh Đại Sĩ, tổ sư 12 thiền tông cũng là người xiển dương pháp môn niệm Phật xác quyết: “Chuyên tâm niệm Phật là phương tiện siêu thắng của Như Lai”. Ngài Mã Minh không chỉ là một đại diễn giả đầu tiên về giáo nghĩa và triết lý Đại thừa, thuộc vào hạng các nhà tư tưởng tiên phong sâu sắc, có nhiều đóng góp cho lịch sử phát triển tư tưởng Phật giáo, mà còn là là một nhà thơ lớn, một nhà biện tại vô ngại, một tác gia lớn và là một nhạc sĩ. Phần lớn các học giả Phật giáo phương Tây biết đến ngài Mã Minh qua trường ca “Phật Sở Hành Tán” S. Buddha-carita-kāvya), thi phẩm nổi tiếng về cuộc đời đức Phật, được viết bằng thơ Sanskrit. Với thiên tài thi ca (poetical genius) Sanskrit vô tiền khoáng hậu của ngài Mã Minh đã góp phần đưa văn học Sanskrit Phật giáo đến đỉnh cao văn chương và triết lý.

5.3Ngài Pháp Nhiên Thượng Nhân khai tổ Tịnh Độ Tông Nhật bản. Ngài nghiên cứu tường tận về mọi tông phái Phật giáo và đọc khắp bách gia của cả Trung Hoa lẫn Nhật Bản. Ngài từng nói rằng: “Bất cứ kinh điển hay sách vở gì, hễ tôi đọc qua vài lần là tự nhiên thấu triệt, không cần phải suy nghĩ”. Bởi thế, Ngài tinh thông mọi Tông pháp mà không cần phải học với ai cả. Ngài duyệt đọc Đại Tạng cả thảy 5 lần và được đương thời tôn xưng là Trí Huệ Đệ Nhất. Không những thế, ngài chứng nghiệm và thông tuệ một số tông pháo khác như thiên thai tông (tu thiền, được Tổ Hoàng Viên có ý trao truyền tổ vị cho ngài nhưng ngài từ chối), mật tông trước khi nhập thất chuyên tu Tịnh độ, niệm Phật vãng sanh.

5.4Trí Giả Tổ Thiên Thai Tông; Hoằng Nhứt Tổ Sư Luật Tông và nhiều thánh tăng khác đều có trí tuệ vô tiền khoáng hậu đều cầu cầu vãng sanh Cực Lạc.

6.      Đối tượng giáo hóa của Đức Phật

Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, sau khi đắc đạo quả cao thượng Chánh đẳng, Chánh giác, đã trải qua hơn 49 năm hoằng dương Phật pháp trên khắp đất nước Ấn độ, cứu độ chúng sinh thoát khỏi sinh tử luân hồi. Đạo Phật là đạo trí tuệ, từ bi và bình đẳng, không phân biệt cao thấp hay giàu nghèo. Vì thế, đối tượng giáo hóa của Như Lai gồm đủ thành phần trong xã hội từ tầng lớp quí tộc cho đến những con người bần cùng nhất, từ người hiền lành cho đến kẻ xấu ác. Chung quy lại, những người theo Đạo giải thoát của Như Lai gồm người tu xuất gia và người tu tại gia. Người tu xuất gia là những người ở trong tăng đoàn theo chân Bổn sư học đạo. Đa số họ được Đức Phật truyền pháp tu thiền, trì giới để đạt đạo quả. Trong khi đó những người khác, chẳng hạn như hoàng hậu Vi Đề Hy, không theo tăng đoàn thì làm sao có thời gian để tu thiền, trì giới như các đệ tử của Đức Phật.

Hơn nữa, những người như hoàng hậu Vi Đề Hy chiếm số lượng vượt trội hơn nhiều so với các tỳ kheo trong tăng đoàn của Đức Phật. Vấn đề có thể đặt ra ở đây là nếu đối tượng cứu độ chúng sinh của Đức Phật chỉ bó hẹp trong tăng đoàn, hay những cư sĩ tại gia có duyên tu theo Tứ Diệu Đế như các vị tỳ kheo của Như Lai thì không đúng với mục đích cao thượng của Thế Tôn, cứu độ chúng sanh và cũng không thể gọi đạo phật là đạo từ bi, bình đẳng được.

Vì sao, nhục thân của các vị tỳ-kheo, đệ tử của Đức Phật được nuôi dưỡng từ những phần thức ăn của đại chúng trong khi đó, bản thân Đức Phật là do cha mẹ của ngài mang nặng đẻ đau và nuôi dưỡng. Vì thế trước tiên để trả hiếu cho cha mẹ, Đức Phật dùng phương tiện gì để độ? Đối với Tịnh Phạn, Vua cha của Đức Phật và những người thuộc họ Thích, theo kinh, Thế Tôn giảng pháp môn niệm thánh hiệu NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT cầu vãng sanh Tây Phương Cực lạc. Hoặc đối với Hoàng hậu Vi Đề Hy và Vua Tần Bà Sa La, những người đầu tiền cúng dường cho Đức Phật và tăng đoàn khu vườn Trúc Lâm để Tịnh tu, Đức Phật giảng pháp quán cõi cực Lạc, hoặc quán tưởng Phật A DI ĐÀ cầu vãng sanh về nước của Ngài vv. Nói một cách khác, đối tượng giáo hóa của đức Phật là toàn thể chúng sinh.

7.      Niệm Phật vãng sanh lưu xá lợi

Xá lợi có thể được xem như là bằng chứng nữa cho thấy công phu niệm Phật của người niệm Phật đã thành ‘quả’ vãng sanh Tây Phương Cực Lạc. Nhiều bằng chứng niệm Phật lưu xá lợi có thể tìm thấy trong quyển “Niệm Phật lưu xá lợi của Cư Sĩ Tịnh Hải. Gần đây nhất, chính Cư Sĩ Tịnh Hải đã để lại hàng ngàn viên xá lợi ngay sau lễ trà tỳ vào sáng thứ Hai, 01 tháng 03 năm 2010 tại nhà quàn Peek Family Home phòng số 2 - địa chỉ 7800 Bolsa Ave, Westminster (714) 893-3525, dưới sự chứng minh của thượng tọa Thích Thiện Long, chùa Phật Tổ ở Long Beach.

8.      Hợp thời

Kinh Đại Tập dạy: "Đời mạt pháp ức ức người tu hành hiếm có một người đắc đạo. Chỉ có nương vào niệm Phật mới thoát khỏi sanh tử".

Đúng vậy, Đức Thế Tôn nhập Niết Bàn nay đã hơn hai ngàn năm trăm năm mươi lăm bốn (2554). Như vậy, hiện chúng ta đang ở thời mạt pháp, mà càng đi sâu vào thời mạt pháp thì đức trí chúng sanh càng hạ liệt.

9.      Vì đại chúng

Theo Pháp môn Tịnh độ, chúng ta phải ‘thực hành bồ tát đạo’, tự độ, độ tha. Tâm lượng bao trùm khắp pháp giới. Niệm phật tri ân, niệm phật giải oán, niệm phật để giải thoát mình và chúng sanh, niệm phật để thân tâm an lạc, gia đình hạnh phúc, xã hội bình an vv.


Tâm Tịnh Cẩn Soạn

TÔI THEO PHÁP MÔN NIỆM PHẬT (Phần 1)

TÔI THEO PHÁP MÔN
NIỆM PHẬT



Người phương Tây và dân trí thức trong thời mạt pháp hầu như không tin pháp môn niệm phật cầu vãng sanh Cực Lạc. Họ không tin vì hai lý do.
Thứ nhất họ cho rằng Phật A DI ĐÀ và Tịnh độ Cực Lạc là huyền thuyết. 
Thứ hai là Kinh sách Đại Thừa Phật Giáo không đáng tin cậy vì thường hiểu lầm là Đại thừa ra đời từ cuộc Tập Kết Kinh điển thứ thứ Tư, hơn 400 năm sau khi Đức Phật nhập niết bàn, cách thời Phật Thích Ca quá xa khiến cho kinh sách đại thừa có phần sai lệch và khó có thể kiểm chứng.
Sau đây là những chân lý chứng minh kinh điển đại thừa Phật giáo và Pháp môn niệm Phật nói riêng là hoàn toàn chân thực, không hư dối. Những chân lý này được kiến giải một cách khách quan dựa trên những sự kiện lịch sử Phật giáo và những lời thuyết giảngcủa Đức Phật ghi lại trong Kinh điển Đại thừa xảy ra đúng với những sự kiện lịch sử sau thời Đức Phật và phù hợp với những thành tựu khoa học ngày nay.
1.      Đại thừa bắt đầu từ Đại tập kết kinh điển lần 2
 Theo Tiến sỹ Nalinaksha Dutt trong quyển “Buddhist Sects In India” (Các Phái Phật Giáo ở Ấn Độ), kỳ kết tập kinh điển lần 2 là khởi điểm của Phật giáo Đại thừa, khoảng 100 năm sau khi Đức Phật Thích Ca nhập niết bàn. Nalinaksha Dutt còn cho rằng đại hội tập kết lần này không có chủ tọa mà mọi việc được thi hành bởi một ủy ban bốn vị tỳ kheo thuộc các xứ miền đông và bốn vị miền tây cùng với sự tham gia rộng rãi của các tỳ kheo (A La Hán và cũng như không A La Hán). Vì thế “Cuộc Kết Tập Kinh Ðiển này là Ðại Kiết Tập (Mahasangiti), và đồng ý là sẽ chấp nhận những quyết nghị của Cuộc Kết Tập Kinh Ðiển mở rộng này. Những người tham dự Cuộc Kết Tập Kinh Ðiển mới này tin là những quyết nghị của họ sẽ phù hợp với giáo lý của Ðức Phật”. (Dutt, 2003: ChươngII, trang 2).

Điểm đáng lưu ý nữa là trong tám vị Tỳ Kheo này, theo Thiện Minh, có 6 vị là đệ tử của Ngài A Nan Đà, là thị giả của Đức Phật và người đã nghe hết tất cả những bài pháp của Như Lai khi còn sống và cũng là người có tầm quan trọng trong kỳ tập kết kinh điển lần thứ nhất. Có thể suy luận từ đây là Phật Giáo Đại Thừa ra đời trong kỳ tập kết kinh điển lần hai có sự tham gia trực tiếp của các đệ tử của Ngài A Nan Đà, những tỳ kheo chịu sự giáo huấn của Ngài A Nan Đà vì thế kinh điển của Phật Giáo Đại Thừa là đáng tin cậy.

2.      Chân lý khoa học hiện đại và Kinh điển đại thừa

Phật giáo là khoa học. Chân lý này đã được minh chứng qua những thành tựu khoa học trong nhưng thế kỷ gần đây. Có khá nhiều bài viết về sự tương đồng của khoa học ngày nay với Phật giáo từ y khoa, vật lý, cho đến toán học có thể giúp bạn đọc hiểu rõ về vấn đề này. Chẳng hạn, ‘Đạo Phật là Siêu Khoa Học’ của Minh Giác Nguyễn Học Tài, ‘Tích hợp Vật lý và Phật học’ của Giáo sư Tiến sỹ Cao Chi, hoặc “Luân hồi tái sinh có thể hiểu được’ do Giáo sư tiến sỹ vật lý Trịnh Xuân Thuận viết vv. Để ý kỹ chúng ta thấy những dẫn chứng chứng minh Phật học là khoa học đa số trích từ kinh điển đại thừa.Sau đây vài ví dụ đơn giản dễ hiểu cho thấy sự tương đồng của khoa học và Phật giáo đại thừa

2.1Trong Kinh Báo Hiếu, Đức Phật dạy bảo A Nan nên biết;
“Xương nữ nam phân biệt rõ ràng
Đàn ông xương trắng nặng hoằng
Đàn bà xương nhẹ đen thâm dễ nhìn
Ngươi có biết cớ chi đen nhẹ?
Bởi đàn bà sinh đẻ mà ra
Sanh con ba đấu huyết ra
Tám hộc bốn đấu sữa hòa nuôi con…”
Thật đúng vậy, theo y học ngày nay, tỷ trọng (density) xương đàn bà 30% ít hơn xương của đàn ông. Ở mổi thập niên cơ thể của người đàn bà đều trải qua một giai đọan mới: người thiếu nữ ở tuổi dạy-thì khác hẳn với lúc họ vào lứa 20, 30 thời kỳ sinh sãn, hoặc 40, 50, nhằm thời kỳ mãn kinh, v.v... Tỷ trọng của xương đạt tới mức tối đa khi người thiếu nữ vào độ 30 tuổi và dần dần xương bị loãng đi theo ngày tháng. Đến lúc 65 - 75 tuổi thì tỷ trọng xương đã giảm mất 35% đến 50%.

2.2Trong kinh Hán tạng (Đại thừa Kinh) có câu

"Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng" Nghĩa là Phật nhìn trong bát nước thấy tám muôn ngàn (84000) vi trùng.
"Nhơn thân chi nội hữu vô số vi trùng tại trung nhi trú"nghĩa là Phật nhìn thấy trong thân người có vô số vi trùng đang trú ẩn bên trong.
Ngày nay nhờ kính hiển vi và các thiết bị y khoa hiện đại, các nhà khoa học thấy có nhiều vi trùng ở trong nước và cơ thể con người.

3.      Chân ngôn của Như Lai và sự kiện lịch sử Phật giáo

Một bằng chứng nữa cho thấy những sự kiện lịch sử phật học xảy ra đúng với lời Đức Phật dạy (tiên tri) trong Kinh điển đại thừa.

3.1Pháp môn niệm Phật ‘dành cho chúng sanh’ ở thời kỳ Chánh Pháp cuối cùng, 1000 năm sau khi Như Lai nhập diệt.

Trong Kinh Niệm Phật Ba la Mật, Cư sĩ Diệu Nguyệt vì chúng sanh tội khổ ở thời kỳ chánh pháp cuối cùng cũng như các bậc trưởng giả, cư sĩ, Bà-la-môn vv tại thành Vương Xá lúc bấy giờ thỉnh cầu Đức Thế Tôn chỉ dạy Pháp môn niệm Phật để cứu vớt chúng sanh thoát khỏi sinh tử luân hồi.

“Sau khi Như Lai diệt độ khoảng một ngàn năm trở đi, đó là thời kỳ Chánh pháp cuối cùng, các kinh điển dần dần ẩn mất, chúng sanh căn cơ hạ liệt, ám độn, ngã chấp sâu dày, tâm tưởng thô trệ, tà kiến lan tràn, say sưa làm các nghiệp ác để tự vui.Do đó tự nhiên chiêu cảm động đất, đói kém, tật dịch, binh đao, bão lụt, mất mùa, gió bão, thời tiết viêm nhiệt bức não. Thánh nhân lại không xuất hiện. Tuổi thọ giảm dần. Nếu ai phát khởi tâm chí tu hành, cũng không thể tu tập các môn Giới luật, Thiền định, Trí tuệ, Giải thoát vô lậu. Không thể tu tập Tứ-niệm-xứ, Bát-chánh-đạo, Tứ-chánh-cần. Không thể tu tập Tứ-vô-lượng-tâm, không thể tu tập Sáu-ba-la-mật, hoặc là Bố-thí ba-la mật, nhẫn đến Trí-huệ ba-la-mật, không thể tu tập bằng các phương tiện của Quán Trí để ngộ nhập Phật Tri Kiến. Không thể chứng đắc Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Không thể chứng nhập Sơ-thiền nhẫn đến Tứ-thiền. Không thể chứng nhập Niết-bàn Diệu-tâm. Không thể vào sâu vô lượng Tam-muội, Thần-thông Du-hí của chư Bồ-Tát, nhẫn đến không thể thâm nhập cảnh giới thù thắng trang nghiêm của chư Phật, hoặc rải cỏ nơi đạo tràng, đánh rền trống pháp hàng phục ma quân. Vì lý do như vậy, mà đệ tử chúng con xét nghĩ nên phát khởi Vô-thượng Bồ-đề-tâm. Khẩn cầu đức Thế-Tôn chỉ dạy giáo pháp nhiệm mầu, mong lợi lạc hết thảy tội khổ chúng sanh ở thời kỳ cuối cùng của Chánh pháp.” (Trang 10)

Đúng như vậy sau khi Như Lai nhập diệt gần 1000 năm sau, pháp môn Niệm Phật chớm nở ở Trung Hoa bằng sự ra đời của Huệ Viễn Đại sư, Sơ Tổ Tịnh độ  là một Cao tăng Trung Quốc đời nhà Tấn (334 -414). Pháp môn này thật sự phát triển mạnh từ thời Nhị Tổ Thiện Đạo Đại Sư (613) cho đến ngày nay.

3.2Bồ Tát Long Thọ ra đời, chấn hưng Phật Giáo Đại thừa

Trong kinh Lăng Già (một trong những kinh Đại thừa được các chư tổ thiền tông dùng dể truyền tâm ấn), về ngài Long Thọ, đức Phật đã có lời huyền ký với Đại Huệ Bồ Tát rằng:
Đại Huệ ông nên biết
Chứng sơ Hoan hỷ địa
Đời vị lai sẽ có
Sau khi ta nhập niết bàn
Tôn hiệu là Long Thọ
Tỳ kheo danh đức lớn
Duy trì pháp của ta
— nước Nam Thiên Trúc
Trong thế gian hiển ngã
Phá các tông Hữu, Vô tông.
Tuyên dương pháp Đại-thừa.
Trong thế gian hiển ngã.
Được Sơ-hoan-hỷ-địa.
Sanh về cõi Cực-Lạc”.


Như thế, ngài Long Thọ ứng tích là bậc Sơ Địa Bồ Tát Bi Trí rộng sâu. Theo sử liệu được trình bày như trên, khởi điểm của Phật Giáo Đại Thừa vào hơn 100 năm sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni nhập diệt. Có thể cho rằng những kinh sách phật giáo đại thừa đã được kết tập từ thời điểm này, phát triển mạnh về sau và được NgàiLong Thọ sưu tập, kiến giải nhằm bảo tồn tư tưởng then chốt của Phật giáo mà Đức Thích Ca Mâu Ni đã để lại vì theo Ngài Long Thọ những tư tưởng này đang gặp nguy cơ thất lạc qua xu hướng kinh viện triết học của một số trường phái tiểu thừa thời đó (khoảng 700 phật lịch). Quan điểm về kinh điển đại thừa không phải có từ thời ngài Long Thọ mà đã tồn tại và phát triển trước đó (từ Đại Kiết Tập lần 2) cũng được sử gia Kimura Taiken tán thành khi cho rằng “Long Thọ không phải là nhà biên tập kinh điển Đại thừa, mà chỉ là nhà chú giải những kinh điển Đại thừa đã có từ trước để phát động một phong trào nghiên cứu Đại thừa mà thôi.” (Taiken: 1986:3) Nhiều nghiên cứu gia về phật học nhận xét rằng Ngài Long Thọ là một trong những người có công nhất trong việc chấn hưng tư tưởng phật giáo đại thừa. Chính vì thế,“Người ta xem sự xuất hiện của Long Thọ là lần chuyển pháp luân thứ hai của Phật giáo (lần thứ nhất do Phật Thích-ca Mâu-ni. Trong tranh tượng, Long Thọ là vị duy nhất sau Phật Thích-ca được trình bày với chóp trên đỉnh đầu (nhục kế), một dấu hiệu của một Đại nhân. Long Thọ cũng được xem là Tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Độ. Truyền thống Mật giáo cũng xếp Ngài vào 84 vị Đại thành tựu.” (Wikipidia).

Monday, April 7, 2014

SỐNG TRONG BỔN NGUYỆN CỦA PHẬT A DI ĐÀ - Nguyễn Thế Đăng

SỐNG TRONG BỔN NGUYỆN CỦA PHẬT A DI ĐÀ

                                                                               Nguyễn Thế Đăng






Chúng ta thấy một con người, bằng đức tin và niệm danh hiệu, đã gắn được cuộc đời mình với bổn nguyện của A Di Đà, và như thế, dù thân còn ở đây chưa về đến Tịnh độ nhưng tâm đã có phần dự vào trong Tịnh độ, trong Pháp thân, Báo thân và Hóa thân của Phật A Di Đà để xóa tan khoảng cách giữa Ta bà và Tịnh độ, giữa sinh tử và Niết bàn.


Tất cả chúng ta đang sống trong Ánh sáng Vô lượng (Vô lượng Quang) và Đời sống Vô lượng (Vô lượng Thọ), trong bổn nguyện của Phật A Di Đà, điều đó được nói trong 48 lời nguyện của Tỳ kheo Pháp Tạng (Dharmakara), tiền thân của Ngài.

Những ước vọng của kiếp nhân sinh và những khổ đau – mặt trái của ước vọng không thành của con người – đều được gói trọn trong bổn nguyện của A Di Đà. Bổn nguyện đó là Ánh sáng Vô ngại (Vô Ngại Quang Như Lai) có thể soi thấu đến những chỗ tối tãm nhất trong lịng người và xuyên qua những chất cứng nhất trong thế gian, cái bản ngã cứng đặc kiên cường và đen tối, và như thế, năng lực chuyển hóa của bổn nguyện là vô hạn. Bổn nguyện là tấm lưới của ánh sáng và đại bi trùm khắp chúng sinh ba cõi, chỉ cần một niềm tin chân thành là tấm lưới ấy hoạt động để đưa chúng ta đến với ánh sáng tỏa chiếu tình thương vô tận.

48 lời nguyện ấy đã thành tựu từ rất lâu xa, khi Bồ tát Pháp Tạng thành Phật đến nay đã được mười kiếp (một kiếp gồm 4.320.000.000 nãm, theo cách tính của Ấn Độ thời cổ, y cứ lời của Đức Phật Thích Ca dạy trong kinh A Di Đà (Xá Lợi Phất! A Di Đà Phật thành Phật dĩ lai ư kim thập kiếp). Vì lý do đó mà những lời nguyện trên được gọi là bổn nguyện.
Chúng ta đang sống trong bổn nguyện, trong ánh sáng vô lượng và đời sống vô lượng mà theo ý niệm nhị nguyên của con người, chúng ta có thể hiểu rằng, ánh sáng vô lượng là trí tuệ và đời sống vô lượng là tâm đại bi của A Di Đà.
Cái làm cho chúng sinh tiếp xúc được với bổn nguyện của A Di Đà là đức tin. Trong 19 lời nguyện nhắm đến tất cả chúng sinh trong vũ trụ ấy, đều mang nội dung của đức tin. Đức tin ấy có thể hình dung qua những yếu tố sau đây:
Một ý thức sâu sắc về tính hữu hạn, thất thường, bất định, mâu thuẫn và phải chết của con người. Nếu chỉ đích danh hơn, những tính chất hữu hạn, mâu thuẫn nội tại ấy là đặc tính của cái ngã và những hoạt động phiền não của nó. Và trong tình trạng hiện thời, toàn bộ đời sống con người dựa vào cái ngã và những hoạt động tạo nghiệp của nó, hậu quả tất yếu là những khuyết điểm, lầm lỗi và khổ đau mà chúng ta gọi là sanh tử. Nhưng để thoát khỏi cái ngã đó, với phần đông con người là không thể, vì làm bất cứ điều gì, dù tu hành để giải thoát hay làm tốt cho người khác thì vẫn nằm trong sự giật dây của cái tự ngã, chỉ làm cho cái ngã, phụng sự cái tự ngã.
Với con người, không phải bao giờ cũng có thể có vị tha thực sự, lợi mình lợi người thực sự, vì thông thường có cái ta phản trắc luôn ở trung tâm của mọi hành động. Không giải quyết được khổ đau của mình, đồng thời chúng ta cũng gieo rắc khổ đau cho người khác. Nói theo hình ảnh của kinh Pháp Hoa, chúng ta là những đứa con khốn cùng, dù có may mắn nghe được cha mình giàu có đến trùm khắp vô vàn thế giới đang ở nơi xa kia chờ mình thì cũng không đủ sức trở về, dù có người dẫn dắt. Đôi chân con người đã mỏi mệt vì khổ đau của sinh tử, trí óc đã quá nặng nề vì những màn ảo hóa và chỉ khi thấy rõ sự hữu hạn, nhỏ bé và bất lực của mình, thấy sự mâu thuẫn nằm trong chính nền tảng của bản thân, con người khổ đau đó mới mở mình ra trước lời kêu gọi của đại nguyện của Phật A Di Đà.
·         Chúng ta không biết làm gì hơn là phó thác, hiến mình và tin cậy.
Khi tự lực trong mức độ chúng sinh chỉ là thất thường, mâu thuẫn nội tại, chính lúc đó, bắt đầu sự lắng nghe sâu xa tiếng kêu gọi của bổn nguyện, sự chấp nhận phó thác cho công việc đại bi của Phật A Di Đà. Một chuyển hóa bắt đầu xảy ra, con người từ bỏ những bất toàn, những xung đột mâu thuẫn nội tại của mình, để đi vào nguyện lực của Đức A Di Đà. Do đó con người thấy ra tha lực.
·         Không chỉ để đối phó với khổ đau, đức tin cũng là một mong mỏi bất tuyệt về một cõi không có ba đường ác (lời nguyện thứ nhất), thậm chí không có cả một danh từ để chỉ một sự ác nào (lời nguyện thứ 16). Tích cực hơn, đức tin cõi tịnh là một tình cảm nồng nhiệt đối với tất cả những gì đẹp đẽ, thanh tịnh đối với cõi nước, con người lành thánh của Phật A Di Đà. Chính sự kính ngưỡng đối với cõi Tịnh độ và Phật A Di Đà sẽ chuyển hóa những đam mê vào cõi dục của chúng ta, nguyên nhân của những phiền não khổ đau.
·         Cuối cùng, đức tin đó khiến chúng ta mở tâm thức, mở tấm lòng để đón nhận ánh sáng của lịng bi A Di Đà.
Trong các kinh Nikàya, có thuật lại rằng khi Đức Thích Ca giác ngộ, Ngài nhìn lại thế gian, quan sát chúng sinh như những hoa sen, có cái còn nằm trong bùn, có cái lên trong nước, có cái đã ra khỏi nước và có cái bắt đầu nở hoa, thấy thế, Đức Phật đã quyết định chuyển bánh xe pháp để đem lại lợi lạc cho chúng sinh. Với đức tin vào Phật A Di Đà và năng lực đại bi tr?ắp của Ngài, đoá hoa sen tức Phật tánh của mỗi người sẽ vươn lên và nở hoa trong ánh sánh vô lượng và đời sống vô lượng.
Đức tin là cái nối kết con người với lời kêu gọi ngập đầy thương yêu và ân điển tức là 48 lời nguyện của Đức A Di Đà với ánh sáng vô lượng và đời sống vô lượng  tức là bản tính của Đức A Di Đà. Nhưng sự kêu gọi và sự đáp trả còn thể hiện cụ thể, đó là niệm danh hiệu “Nam mô A Di Đà Phật”, “Nam mô” là sự trở về trong tâm linh của đưá con cơ nhỡ, lạc loài, vô phương tự thoát và “A Di Đà Phật” là quê nhà của nó, sự sống và là ánh sáng của nó.

Niệm Phật là thể hiện đức tin ấy.

Trong 19 lời nguyện nhắm đến các chúng sinh ở ngoài cõi Tịnh độ, có đến 14 lời nguyện nói đến “niệm danh hiệu” và “nghe danh hiệu”. Như thế, danh hiệu A Di Đà chính là Phật A Di Đà. Niệm danh hiệu là phương pháp được nói đến nhiều nhất trong những phương pháp để tiếp thông với Đức Phật. Niệm danh hiệu chính là đi về Tịnh độ và đi vào bản tính của Phật, đồng thời làm hiện thân Tịnh độ và bản thân Phật A Di Đà giữa thế gian.
Như trên đã nói, niệm danh hiệu được nhắc đến nhiều nhất trong các đường lối để tiếp cận với Phật A Di Đà và Tịnh độ. Niệm Phật là để sinh về Tịnh độ, nơi không có những tranh chấp mâu thuẫn giữa ta với người, ta với thế giới, và ta với chính ta, những mâu thuẫn muôn đời không thể nào giải quyết ở đời sống vận hành theo chiều hướng tư duy hữu ngã này.
Niệm Phật A Di Đà là niệm ánh sáng vô lượng, do đó thải trừ bóng tối vô minh nơi mình. Niệm Phật A Di Đà là niệm đời sống vô lượng, do đó thải trừ sinh tử nơi mình.
Như vậy, niệm danh hiệu đúng nghĩa chính là đang thực hiện sự tịnh hoá. Nó không chỉ là loại bỏ sự sợ hãi trước bóng tối và cái chết, mà còn đưa con người đến với ánh sáng vô lượng và đời sống vô lượng, nghĩa là khai mở Phật tánh trong mỗi người, như Tỳ kheo Pháp Tạng đã thành tựu và ứng dụng để tạo thành Tịnh độ trước đây mười a tăng kỳ kiếp.Bắt đầu niệm Phật là bắt đầu sự chuyển hoá. Mỗi câu niệm Phật là một lần chuyển hóa.
Sự chuyển hoá này xảy ra tại đây và bây giờ, thải trừ năm độc tham, sân, si, kiêu mạn và đố kỵ trong thân tâm mỗi người. Như thế, con đường đi về Tịnh độ bắt đầu ngay lúc này và tại đây, bằng danh hiệu Phật.
Lấy một hình ảnh thí dụ của Đại thừa, Phật A Di Đà ví như một mặt trăng giữa trời, mà mỗi câu niệm Phật như một chậu nước, mỗi chậu nước có một mặt trăng trong đó. Niệm Phật đến mức mặt trăng in hẳn vào dòng hiện sinh của hành giả, không còn tách lìa, dù ở đâu và lúc nào. Khi đã thật sự có mặt trăng Phật thường trực trong lòng, sự tái sinh về Tịnh độ khi chết ắt là một tiến trình tất yếu.
Theo Kim Cương thừa, Phật A Di Đà ở về phương Tây trong Ngũ Trí Như Lai, là chủ của Liên Hoa bộ. Thành tố của bộ này là lửa và màu là màu đỏ. Phật A Di Đà ngồi trên một tòa sen do một con công đội. Con công ăn thức ăn độc và chuyển hóa thành màu lông rực rỡ của mình, càng độc lông càng đẹp. Bộ Liên Hoa chuyển hóa tham dục của cõi này thành trí tuệ, biến ái dục của cõi dục này thành từ bi.
Bởi thế, khi nào tham dục – một trong năm độc – khởi lên chúng ta hãy niệm danh hiệu. Khi nào sắp nổi giận, chúng ta hãy niệm Phật, khi nào muốn cầu nguyện cho ai chúng ta hãy niệm Phật.
Danh hiệu Phật có tính cách của một thần chú (mantra), một tổng trì (dharani) thỏa mãn cho những nguyện vọng xuất thế gian (“nghe danh hiệu tôi, được Vô sanh pháp nhẫn và các môn tổng trì sâu xa” lời nguyện thứ 34) và những nguyện vọng thế gian (“nghe danh hiệu tôi, sau khi mạng chung, sanh ra vào những gia đình tôn qúy” lời nguyện thứ 43), (“nghe danh hiệu tôi, tất cả các căn không xấu xí, kém khuyết” lời nguyện thứ 41). Sở dĩ như vậy vì trong danh hiệu có đủ cả Pháp thân (Tâm giác ngộ, tâm Phật), Báo thân (Ánh sáng vô lượng, Thọ mạng vô lượng) và Hóa thân (sắc thân Phật và cõi Tịnh độ) của Phật A Di Đà. Bởi thế khi nào trong lòng chúng ta từ bi hỷ xả không sinh khởi, hãy niệm danh hiệu vì danh hiệu là sự tập trung thuần khiết nhất của từ bi hỷ xả. Sáu Ba la mật, năm căn, năm lực, bảy Bồ đề phần, tám Thánh đạo phần (kinh A Di Đà), cho đến đắc Vô sanh pháp nhẫn, tức con đường Đại thừa chung cho mọi tông đều có đủ trong danh hiệu Phật. Chúng ta cần nhớ rằng trong danh hiệu có Chánh báo và Y báo, nghĩa là có cả bản tánh trí tuệ và đại bi của Đức A Di Đà, đồng thời có Tịnh độ của Ngài.
Niệm Phật là thả mình vào công cuộc chuyển hóa của bổn nguyện, trút những xác chết của khổ đau phiền não không thể nguôi ngoai vào đại dương của bổn nguyện và để cho đại dương đó chuyển hóa cho. Như Phật Thích Ca đã nói “trong đại dương (Niết bàn) không dung chứa xác chết”, đại dương ánh sáng và đại bi của Phật A Di Đà cũng không chứa những phiền não khổ đau của chúng sinh mà sẽ chuyển hóa chúng thành những phẩm tính của Tịnh độ. Một bài kệ của Thân Loan (1173-1263), vị Tổ thứ hai Tịnh Độ tông Nhật Bản, đã viết:
Khi nhiều dòng sông phiền não chảy vào
Đại dương của lời nguyện đại bi
Của ánh sáng vô ngại, soi sáng mười phương
Chúng trở thành một vị với nước của trí tuệ.

Và như thế, không chỉ khổ đau phiền não của chúng sinh mà toàn bộ hiện sinh của con người được đặt trên nền tảng ban sơ và tối hậu của sự chuyển hóa: cuộc đời bấp bênh dễ vỡ như bọt biển (“bọt trong biển cả uổng chìm nổi” Tuệ Trung Thượng Sĩ) được an trú vào đại dương bổn nguyện của A Di Đà; tâm thức chúng ta tiếp thông với ánh sáng vô lượng, cuộc đời hữu hạn nhỏ nhoi của chúng ta tìm ra nền tảng của chính nó là đời sống vô lượng, sức sống của chúng ta cắm rễ vào lòng Bi không cùng.
Lúc ấy, thế giới này không còn là khổ đau sanh tử mà tất cả đều được chuyển hóa để trở thành sự biểu hiện của Phật A Di Đà như cõi Tịnh độ (giai thị A Di Đà Phật dục linh tuyên lưu biến hóa sở tác với kinh A Di Đà). Lúc đó là sự hợp nhất bất khả phân, ánh sáng hòa trong ánh sáng, hương thơm hòa trong hương thơm, như Saichi (1850-1933) nói :
Lòng tôi là lòng Ngài
Lòng Ngài là lòng tôi
Chính lòng Ngài trở thành tôi;
Không phải tôi trở thành A Di Đà
Mà A Di Đà trở thành tôi
Nam mô A Di Đà Phật.
Trong ánh sáng vô lượng có sự chuyển hóa hoàn toàn, tất cả đều trở thành ánh sáng, vẫn Saichi nói:
84.000 phiền não
84.000 ánh sáng
84.000 niềm vui tràn ngập
Ở trên là một vài trích dẫn lời phát biểu từ các thành tựu của hành giả niệm Phật, đó cũng chính là những tấm gương cho chúng ta, những lời ấy cho thấy chính đức tin chân thành sâu sắc rằng tất cả chúng ta đang sống trong bổn nguyện, ánh sáng vô lượng và thọ mạng vô lượng của Phật A Di Đà. Sống trong đức tin như vậy tạo thành Giới Định Tuệ cho một cuộc đời của một Phật tử Tịnh độ. Chỉ nói một mặt và sơ lược về một vài điều giới của một Phật tử Tịnh độ, đó là không tranh chấp, không oán thù, từ bi hỷ xả, không gieo thêm khổ đau cho mình và cho người khác, “không có ba đường ác, thậm chí không có cả danh từ đường ác” (kinh A Di Đà).
Một khi tâm không có xấu ác như vậy, thì nhờ đó mà cảm nghiệm được sự thanh tịnh đẹp đẽ của cịnh độ; tâm đó tịnh nghiệp của cõi Tịnh độ cho nên nó đã có phần tiếp thông với Tịnh độ. Như thế, cuộc đời đó được thãng hoa, gần với sự an ổn của bổn nguyện, gần với ánh sáng vô lượng và đời sống vô lượng hơn.
Trong thời đại hiện nay, tính chất tâm linh nơi con người đã yếu nhạt nhiều, hoàn cảnh bên ngoài dễ dàng cho con người sa vào tội ác. Nhưng cũng chính trong một thời khó khăn cho tâm linh như vậy, bổn nguyện của Phật A Di Đà lại càng có ý nghĩa hơn, khi bổn nguyện đó đã có trước cả sự sinh thành của thế giới chúng sinh và sẽ còn mãi với đức Vô lượng thọ.
Có lẽ rằng trong thời yếu kém tâm linh này, con người không có cách gì tiếp cận và vượt lên một đời sống cao thượng hơn, sáng sủa hơn, đầy tin yêu hơn, hòa hợp hơn và với phương tiện nào dễ dàng hơn pháp môn niệm Phật.
Những lời nguyện của Đức A Di Đà nhằm vào tất cả chúng sinh trong mọi mặt của cuộc đời với bao nhiêu giới hạn, tội lỗi, lỡ lầm. Như ngài Thân Loan đã nói:
“Khi tôi suy nghĩ về lời nguyện từ bi của A Di Đà, được thiết lập qua năm a tăng kỳ kiếp tâm niệm sâu xa, lời nguyện đó là dành cho chính tôi, Thân Loan, cho chính một mình tôi”.
Khi đức tin đã phát khởi, chúng ta có sự tương thông với Phật A Di Đà và sự tượng thông đó trở nên liên tục, tương tục và luôn luôn mở rộng cả bề sâu lẫn bề rộng bằng niệm danh hiệu Phật. Sự chuyển hóa liên tục xảy ra từ mối nối kết này, biến đổi con người tội lỗi, bất toàn, tự mâu thuẫn xung đột và phải chết của chúng ta thành một con người của Tịnh độ. Sự chuyển hóa này ngày xưa các tổ Tịnh độ ví như “gạch ngói vụn được biến thành vàng ròng” vì “trong Tịnh độ tất cả trời người sắc tướng đều một màu vàng ròng” (lời nguyện thứ 3).
Chúng ta cần nhắc lại một lần nữa, sự chuyển hóa không chỉ xảy ra ở nơi cõi Tịnh độ mà đã và đang xảy ra ngay tại đây và lúc này. Sự chuyển hóa “gạch ngói vụn thành vàng ròng”, “sắc tướng con người đồng thành một màu vàng ròng” phải được thiết lập ở đây và lúc này, nghĩa là kinh nghiệm về Tịnh độ và Phật A Di Đà phải được cảm nhận nơi mình ở đây và lúc này.
Để minh họa cho đời sống của đức tin hiện sinh này, chúng ta đọc một vài mẩu chuyện của Shoma (1799-1871) trích từ The Essence of Buddhism của D.T. Suzuki :
Có lần Shoma viếng một ngôi chùa quê. Vừa vào chánh điện, anh thõng chân nằm dài trước tượng A Di Đà. Một người trách anh vô lễ, thất kính, anh trả lời:
“Tôi vào đây là trở về nhà cha mẹ tôi, còn anh bắt bẻ tôi như vậy chẳng qua anh chỉ là người ngoài gia đình này thôi”.
Có lẽ sống trong lòng đại bi bổn nguyện của Phật A Di Đà là như vậy.
Có lần Shoma cùng các bạn đi trên một chiếc thuyền buồm, gặp lúc gió lớn sóng to như muốn nhận chìm thuyền. Mọi người quên hết việc niệm Phật mà chỉ biết van vái lung tung. Trong khi ấy, Shoma nằm ngủ cho đến lúc người ta đập anh dậy, anh dụi mắt hỏi:
“Tôi có còn trong thế giới Ta bà không?”
Có lần anh làm việc ngoài đồng, mệt bèn về nhà nghỉ. Gió mát khiến anh nhớ đến Phật A Di Đà. Anh liền mang tượng ra đặt bên cạnh nói: “Ngài ngồi đây hóng mát nhé!”.
Một hôm giữa đường mắc bệnh, bạn bè mướn người võng anh về nhà, rồi dặn dò:
“Nay anh đã về quê rồi, hãy nghỉ yên và tạ ơn A Di Đà“, Shoma đáp: ”Cám ơn, nhưng tôi bệnh ở đâu thì chỗ đó là Tịnh độ của tôi, sát ngay bên cạnh tôi”.
Có lần nghe người nói về hoạt động truyền giáo của một tôn giáo khác, Shoma nói:
“Không gì tốt hơn là phàm phu thành Phật”.
Khi có người hỏi làm sao giữ tròn được cuộc sống sau khi chết, Shoma đáp:
“Việc ấy để A Di Đà lo liệu, đó không phải là chuyện của tôi”.
Chúng ta thấy một con người, bằng đức tin và niệm danh hiệu, đã gắn được cuộc đời mình với bổn nguyện của A Di Đà, và như thế, dù thân còn ở đây chưa về đến Tịnh độ nhưng tâm đã có phần dự vào trong Tịnh độ, trong Pháp thân, Báo thân và Hóa thân của Phật A Di Đà để xóa tan khoảng cách giữa Ta bà và Tịnh độ, giữa sinh tử và Niết bàn.
Có thể tóm lại, sống trong bổn nguyện là giao phó, đưa hết thẩy thân tâm tùy thuận với công việc đại bi bao la vô tận của Phật A Di Đà, một thân tâm quy y vào Phật A Di Đà như vậy thì thanh tịnh để có thể phát khởi đức tin trông cậy vào A Di Đà và công việc của Ngài. Thân tâm hữu hạn và khuyết điểm đó chìm ngập trong thực tại của A Di Đà là Trí tuệ và Đại bi phổ trong 48 lời nguyện, đây là tiền đề để sinh về Tịnh độ. Nhưng trước khi thân tâm đi về trung tâm điểm đích đến của nó là Tịnh độ, thì ngay ở đây và lúc này, nơi thế giới này, chúng ta đã hưởng được những phần công đức của Tịnh độ.


Nguyễn Thế Đăng

VỚI TRÁI TIM VÀ CẢ CUỘC ĐỜI

VỚI TRÁI TIM
VÀ CẢ CUỘC ĐỜI




Thầy nói với thương gia:
- Như cá nằm trên nền đất rắn. Ai bị cuộc đời lôi cuốn sẽ phải tàn lụi. Thế nên, cá phải quay về nước và anh quay về với Nam mô A di đà Phật!
Người thương gia quặn ruột:
- Thế tôi phải buông bỏ công ty, không còn mần ăn chi nữa và rồi lên núi kiếm ngôi chùa nào đó?
- Không. Ồ không! Ạnh cứ giữ công ty để kinh doanh nhưng vẫn đi vào Danh hiệu Nam mô A di đà Phật với trái tim và cả cuộc đời!


- Một Phút Minh Triết. Tonysham Phỏng dịch