Blogroll

Showing posts with label Pháp Nhiên. Show all posts
Showing posts with label Pháp Nhiên. Show all posts

Sunday, April 13, 2014

CHÍ NGUYỆN XUẤT GIA CỦA NGÀI THÂN LOAN - THÍCH NHẬT TỪ

CHÍ NGUYỆN XUẤT GIA
CỦA NGÀI THÂN LOAN
THÍCH NHẬT TỪ Giảng ở chùa Giác Ngộ, 24/02/2005


Hòa thượng Thân Loan là một vị cao tăng trong thời hiện đại. Ngài xiển dương Tịnh Độ Chân tông rất thành công, tạo ra sinh khí mới cho phong trào thể nhập Phật giáo trong xã hội. Cuộc đời của ngài rất bất hạnh. Khi mới lên chín tuổi, cha mẹ của ngài đều qua đời. Ngài không có anh em, và trở thành mồ côi. Ngài có sẵn căn tu. Sau khi làm lễ an táng cha mẹ xong, ngài xin gặp Hòa thượng Từ Trấn, xin đi tu. Vào thời điểm đó, Hòa thượng Từ Trấn đã trên tám mươi tuổi.
Hòa thượng nói với Thân Loan như sau:
“Con còn nhỏ quá, ăn cơm còn chưa xong, sao đi tu được. Con hãy xuống núi mà về, kẻo trời tối nguy hiểm”.
Ngài Thân Loan trả lời Hòa thượng như sau:
“Bạch Hòa thượng, con đến đây để tham kiến ngài hai việc. Trước hết con xin hỏi ngài, con người tại sao chết? Thứ hai, thông qua cái chết, tại sao tình thâm giữa cha mẹ và con cái lại chia lìa nhau? Vì muốn tìm hiểu được hai nguyên lý này, con đến đây xin được tu học. Nếu ngài có yêu cầu hay ra điều kiện gì, con đều làm cả”.
Nghe xong, Hòa thượng Từ Trấn rất đỗi vui mừng, biết rằng đây là một hạt giống tốt cho Phật giáo. Thế nhưng, Hòa thượng vẫn giả vờ từ chối và nói tiếp:
“Con còn nhỏ quá, hỷ mũi chưa sạch. Thôi hãy về đi, muốn gì thì ngày mai lên đây bạch với thầy”.
Ngài Thân Loan khẩn cầu như sau:
“Ngay ngày tang lễ cha mẹ con, Hòa thượng đã đến và dạy chúng con một điều: vô thường không chờ đời ai. Con rất tâm đắc câu nói đó. Vì vậy, nếu hôm nay Hòa thượng bảo con trở về thì không biết ngày mai con có giữ được tâm xuất gia nữa không? Hơn nữa, tuổi ngài cũng đã cao. Hôm nay ngài còn sống, nhưng ngày mai cũng có thể ngài về cõi Phật. Cho nên, hôm nay con sẽ không về nhà! Nếu ngài không cho con vào chùa, con sẽ ngủ ngoài hành lang. Nếu ngài không cho, con ngủ ngoài hành lang, con sẽ ngủ bên vệ đường. Con sẽ ở đây cho đến khi nào ngài đồng ý mới thôi!”.
Lúc ấy Hòa thượng Từ Trấn không còn cách nào khác, cho tập họp tăng chúng trên chánh điện và làm lễ xuống tóc cho Thân Loan xuất gia.
Đây là câu chuyện có thật, nói về một người có nhận thức sáng suốt, biết tìm kiếm những cơ hội tốt và làm cho hạt giống xuất gia được chín muồi.
Chúng ta có thể đặt câu hỏi: Tại sao một đứa bé mới chín tuổi, lại biết cách lý luận và thuyết phục một vị cao tăng cho phép mình đi tu.
Người xuất gia có căn tu trải qua nhiều kiếp cũng tương tự như vậy. Ngài Thân Loan có thể kiếp trước là một người tu, hạt giống xuất gia của ngài đã nảy mầm trong tình huống đau buồn do cha mẹ qua đời. Trong nỗi khổ đau quá lớn đó, ngài đã đến với nhà Phật và trở thành một vị cao tăng. Điều cần học hỏi ở đây, là ngài đã biết cách biến nỗi mất mát, khổ đau thành hành động, tìm ra con đường giải thoát cho chính mình. 

CÂU TRẢ LỜI ĐÃ CÓ SẴN TRONG CÂU HỎI - Daisetz Teitaro Suzuki (1870-1966) - Hoang Phong chuyển ngữ

CÂU TRẢ LỜI ĐÃ CÓ SẴN
TRONG CÂU HỎI
 Daisetz Teitaro Suzuki (1870-1966)
(Hoang Phong chuyển ngữ)




Sau khi D.T. Suzuki qua đời, hội Phật giáo Hoa kỳ góp nhặt các bài viết cuối cùng của ông để in thành sách với tựa đề "Lãnh vực của Thiền học Zen" (The Field of Zen, 1969) và bốn mươi năm sau quyển sách này được dịch sang tiếng Pháp với tựa đề "Những bài viết cuối cùng bên bờ của cõi trống không" (Derniers Écrits au bord du Vide, 2010). Dưới đây là một trong số các bài được tuyển chọn trong quyển sách này.
D.T. Suzuki là một trong những người đã có công mang Phật giáo nói chung và Thiền học nói riêng đến với thế giới Tây phương. Thường thì người ta vẫn nghĩ rằng phương Tây chịu ảnh hưởng nặng nề của một nền văn hóa duy lý và hệ thống lôgic của Aristote và thế giới Đông phương thì lại thiên nhiều hơn vào trực giác và chiều sâu của tư tưởng. Như vậy thì D.T. Suzuki đã "lý luận" như thế nào để mang hai thế giới ấy đến gần nhau? Mặt khác khi tìm hiểu và đi sâu vào Tịnh độ, Phật giáo Tây tạng, Thiền học Zen... chẳng hạn, có thể chúng ta cũng có cảm giác lạc vào những thế giới hoàn toàn khác biệt nhau vì tính cách đa dạng của các học phái ấy. Vậy các học phái ấy có thể dung hòa với nhau hay không? Bài chuyển ngữ dưới đây cho thấy D.T. Suzuki đã "lý luận" như thế nào để vượt lên trên sự "lý luận" hầu mang tất cả chúng ta trở về với hiện thực, dù chúng ta đang ở phương đông hay phương tây, và dù đang bị chi phối bởi cách lý luận nào.
Người ta thường nói có sự khác biệt giữa hai cách suy nghĩ của phương Đông và phương Tây. Tuy nhiên với cương vị con người biết suy tư thì dù sinh ra ở phương đông hay phương tây, chúng ta không thể nào tránh khỏi không lý luận.
Chẳng hạn người ta nói như sau: "May quá trời Luân Đôn hôm nay không mưa, nếu mưa thì mặt đất ướt át, mặt đất ướt thì đôi giày cũng sẽ ngấm nước" (D.T. Suzuki thuyết giảng bài này tại thành phố Luân đôn). Nếu như đôi giày ngấm nước thì ta tất sẽ bị lạnh hay bị xáo trộn cơ thể. Đấy là con đường của sự lý luận - mưa, ẩm ướt, mưa vì mây kéo đến và chuyển thành mưa. Nơi nào cũng thế, dù là phương Đông hay phương Tây, lý luận theo phương cách ấy đều có thể kiểm nghiệm được, và khi nào mà sự lý luận được mang ra áp dụng thì giữa Đông phương và Tây phương không có gì khác biệt nhau ; nhất là không thể nói người Tây phương có xu hướng lý luận và trong lãnh vực này thì người Đông phương khác hơn, hoặc cũng không thể nói là mondo (vấn-đáp) trong thiền học zen sẽ dễ hiểu hơn cho người phương Đông so với người phương Tây.
Quả không đúng thế. Chính người phương Đông cũng nhận thấy là mondo zen (vấn đáp trong thiền học zen) thật khó để thấu triệt.
Chẳng hạn như có một đệ tử hỏi thầy mình cốt tủy của thiền học zen là gì thì người thầy trả lời như sau: "Ta sẽ giảng cho nghe nếu như ngươi chỉ cần một ngụm là uống cạn con sông Thames này", (Thames là con sông chảy ngang Luân Đôn). Điều đó trái ngược với cách suy nghĩ thông thường, và nếu như chúng ta gọi đấy là một cách nói ẩn ngữ thì đối với người Đông phương hay Tây phương cách nói ấy cũng ẩn ngữ khó hiểu như nhau. Vì thế thử hỏi là có chính đáng hay không khi bảo rằng tâm tính người Tây phương thiên về lý luận còn tâm tính người Á đông thì thiên về trực giác và sự hiểu biết mang tính cách tự nhiên hơn về mọi sự vật. Thật vô cùng khó khăn để có thể khẳng định được điều đó.

Tuy nhiên và trước hết có lẽ tôi nên giải thích thế nào là bản chất của trí năng (intellect). Trí năng cắt đứt hiện thực ra làm hai: chủ thể và đối tượng; đấy là cách vận hành căn bản của nó. Khi nào chúng ta còn tự buộc chặt vào sự phân tách đó: tức chủ thể và đối tượng, thì luôn luôn xảy ra một sự đối nghịch trong lãnh vực lôgic. Khi lớn lên và đến một lứa tuổi nào đó thì ta thường tự hỏi từ đâu ta đến đây. Người theo Thiên chúa giáo bảo là Trời sáng tạo ra chúng ta. Đấy là cách lý luận thường thấy, bởi vì đối với trí năng chẳng có gì có thể tự nó mà có được ; vật này phải sinh ra từ vật khác, và vật khác lại cũng phải phát sinh từ một vật khác nữa, và cứ thế, v.v... Lý luận kéo nhau thành một chuỗi dài. Nếu như Trời sáng tạo ra chúng ta, thì ai sáng tạo ra Trời? Câu hỏi đó hết sức tự nhiên, để trả lời cho câu hỏi đó thông thường chúng ta bảo rằng Trời tự sáng tạo ra Trời. Không có vị Sáng Tạo nào khác sáng tạo ra Trời, chúng ta không thể nào đi ngược lên cao hơn là Trời. Vậy trong trường hợp một chủng loại tại sao ta không thể dừng lại ở cái ngã hay một cá thể đâu cần phải đi ngược lên đến Trời? Tại sao phải đi ngược lên và dừng lại ở cấp bậc Trời? Nếu Trời sáng tạo ra thế giới và nếu Trời không do ai khác sáng tạo ra cả, Trời tự sáng tạo ra mình, Trời là vị Sáng Tạo ra Trời ; thế thì Trời đã nghĩ gì trong tâm trí khi sáng tạo ra thế giới? Mục đích của thế giới này là gì?
Trong cuộc sống thường nhật, dù làm việc gì thì ta luôn nhận thấy có sự hoàn tất của một cái gì đó, chẳng hạn như một vật thể ; do đó nhất định hành động của ta là một hành động chủ đích (téléologique - teleologic) tức chủ tâm (cố ý - duy ý), và như thế chúng ta bắt buộc phải đặt Trời vào sự hữu lý. Như vậy thì với mục đích nào Trời đã sáng tạo ra thế giới ? Vì không phải là Trời nên chúng ta không thể trả lời thỏa đáng cho câu hỏi ấy. Trời có một ý đồ (visée - aim) riêng mà chúng ta không biết, tuy không biết thế nhưng thật hết sức lạ lùng mỗi khi nghĩ đến Trời thì ta cũng suy nghĩ thay cho Trời. Khi tôi nói Trời có một mục đích riêng cần phải thực hiện, thế nhưng chúng ta lại chỉ là người nên không thể biết được cái mục đích ấy là gì, chỉ cần nêu lên điều đó cũng đủ hiểu rằng có một cái gì đấy trong dự án thiêng liêng của Trời. Nếu chúng ta hoàn toàn không hiểu gì hết về chủ đề Trời, ý chí của Trời, sự sáng tạo của Trời, thì chúng ta cũng không thể nói đến bất cứ gì về Trời, về tác phẩm của Trời, về mục đích của Trời. Khi chúng ta nói đến Trời và công trình của Trời thì tất phải có một cái gì đó bên trong ta khiến cho ta nghĩ đến Trời, nếu không thế thì phải dựa vào một sự phỏng đoán thật táo bạo mới dám nói là Trời có hay không theo đuổi một mục đích. Chuyện ấy vượt khỏi khả năng chúng ta, tuy thế chúng ta vẫn cứ nói đến nó và xem thắc mắc là một thứ gì thật tự nhiên.
Đến đây nếu chúng ta đề cập đến mục đích của Trời khi sáng tạo ra thế giới thì chúng ta cũng có thể cho rằng đấy là một cách : "thiết lập cõi thiên đường trên địa cầu". Nếu đúng là Trời có ý định ấy khi sáng tạo ra thế giới và nếu thực sự có cõi thiên đường trên địa cầu thì chúng ta đáng lý phải hoàn thiện hơn thế này nhiều chứ ? Nếu mọi việc suông sẻ thì không có chiến tranh, không có kinh hoàng, chúng ta đang sống trong thiên đường hạ giới. Thế nhưng các bạn có tin rằng chúng ta đều được hạnh phúc hay không? Hạnh phúc đòi hỏi phải có một cái gì khác không nhất thiết đưa đến hạnh phúc, hoặc hạnh phúc hiện đến nhưng còn kéo theo với nó cả khổ đau. Hạnh phúc thật tương đối. Ta thèm khát hạnh phúc, nhưng mỗi khi đạt được nó ta lại không thỏa mãn, thứ hạnh phúc ấy thật ra cũng không sung sướng gì cho lắm, và rồi ta lại nghĩ đến một cái gì đó sung sướng hơn. Cứ như thế nó điều khiển ta triền miên. Vậy nếu như thiên đường được thiết lập (trên địa cầu này) thì chúng ta cũng chẳng biết phải làm gì. Khổ sở vì buồn chán, chúng ta chỉ muốn xuống địa ngục ! Địa ngục có vẻ thú vị hơn, lúc nào ta cũng cảm thấy một sự kích thích nào đó, vì càng khổ đau ta càng ước mơ được thoát ra. Nếu tất cả mọi sự xảy ra một cách suông sẻ thì sự sống còn có thú vị gì nữa ? Sự sống là một sự kích thích ; khổ đau là một nhu cầu cần thiết cho sự sống. Người ta thường nói đến hòa bình, sự tự do tuyệt đối, thế nhưng nếu đạt được sự tuyệt đối của tự do thì chúng ta lại đòi hỏi nó phải được giới hạn. Chúng ta không thể nào sống được dưới quy chế của sự tự do tuyệt đối. Khi nào còn sống chúng ta còn phải gặp một thứ gì đó đối nghịch lại nguyên tắc của sự sống - sự sống và sự hình thành là như thế, thế giới này là như thế.
Trí năng (intellect) bước theo con đường đó, và khi chúng ta đã đi đến đoạn cuối cùng của con đường thì hình như trí năng không còn đủ sức thỏa mãn chúng ta được nữa. Trời đứng vào vị trí khởi nguyên của thế giới nhưng trí năng lại cứ muốn đi xa hơn cái vị trí đó. Chúng ta không thể nào dừng lại với một sự khởi nguyên duy nhất, sự khởi nguyên đó đòi hỏi một sự khởi nguyên khác, v.v. Chúng ta bắt buộc phải suy nghĩ với kích thước thời gian (sự suy nghĩ bao giờ cũng vận hành trong ý niệm của thời gian - đây là lời giải thích của D.T. Suzuki trong nguyên bản) và tư duy (pensée - thougth) là trí năng. Chúng ta không bao giờ tìm thấy sự thỏa mãn theo con đường đó, có nghĩa là trí năng không bao giờ mang lại một sự thỏa mãn tối hậu khi nào chúng ta vẫn còn phải sống với thời gian, bởi vì thiếu thời gian chúng ta sẽ không sống được. Sống đòi hỏi phải có thời gian.
Vậy thì không gian là gì? Các nhà khoa học nói đến hàng triệu và hàng triệu năm ánh sáng, điều đó vượt khỏi lý trí của chúng ta quá xa. Chúng ta tự cho là hiểu được các con số thiên văn khổng lồ ấy, nhưng thật ra đấy chỉ là những dấu hiệu mang tính cách quy ước. Trí năng không đủ sức nắm bắt được chúng. Dù có nói đến hàng triệu năm ánh sáng thì chúng ta vẫn cho khoảng không gian ấy còn bị giới hạn. Chúng ta vẫn nghĩ rằng không gian còn xa hơn như thế, vẫn tiếp tục trải rộng phía sau cái khoảng không gian hạn hẹp đó. Trực cảm của chúng ta về không gian không bao giờ bị giới hạn. Vậy có phải thời gian mang tính chất phi-thời-gian (intemporel - timeless), và không gian không hàm chứa bản chất của không-gian-tính (spacialité - spacial, spaciality).
Người ta thường nhắc đến một quy luật rất căn bản trong Phật giáo là quy luật nguyên nhân hậu quả - tất cả mọi hiện tượng đều là nguyên nhân và hậu quả. Nếu ta phải chịu khổ sở vì một thứ gì đó xảy ra từ một nguyên nhân từ trước gọi là nghiệp, thì nguyên nhân trước ấy lại cũng có một nguyên nhân khác trước đó đã chi phối nó, v.v... Tuy nhiên đối với trường hợp thời gian, nếu cứ truy ngược lên ngày càng xa hơn ta sẽ không tìm thấy nguyên nhân đầu tiên nào cả. Nếu chúng ta bảo rằng nguyên nhân không có nguyên nhân thì hệ thống lôgic của chúng ta sẽ bị phá bỏ. Chúng ta thử chọn một nguyên nhân rồi truy ngược lên càng lúc càng xa hơn, đến một lúc nào đó nguyên nhân ấy không còn nguyên nhân nào khác sinh ra nó. Nếu nguyên nhân không còn nguyên nhân nữa, thì tại sao ta lại không thể bảo là sự sống mà ta đang sống không có nguyên nhân? Tại sao lại không thể dừng lại ở đó, thế nhưng khái niệm về nguyên nhân lại cứ bắt chúng ta phải truy kích nó cho đến vô tận.
Khái niệm của chúng ta về thời gian, không gian và quy luật nguyên nhân hậu quả thuộc vào phạm trù của trí năng, và khi nào ta còn dùng đến trí năng thì nó cũng sẽ không đủ sức để trả lời cho những câu hỏi mà chính nó nêu lên. Trí năng buộc ta phải nêu lên đủ mọi thứ câu hỏi nhưng nó lại không trả lời được các câu hỏi ấy, vậy chỉ còn cách là nó phải tự chôn mình ! Tuy nhiên chúng ta sẽ không bao giờ thấy chuyện ấy xảy ra. Trí năng vẫn hữu ích trong một lãnh vực giới hạn nào đó : khi trời mưa thì ta bị ướt - nguyên nhân và hậu quả. Khi phải đi ngược lên mỗi lúc mỗi cao hoặc tụt xuống thật sâu đến tận đáy thì quy luật nguyên nhân hậu quả không còn áp dụng được nữa. Đấy là tôi muốn nói đến trường hợp khi ta cho rằng bất cứ gì cũng có một sự khởi đầu, thế nhưng trên thực tế thì không có sự khởi đầu nào cả. Tương tự như vậy thế giới không có sự chấm dứt. Nó không chấm dứt vì nó không khởi đầu và chúng ta sống trong thời gian không khởi thủy cũng không chấm dứt. Khi nào ta còn duy trì trong tâm trí khái niệm về thời gian, thì khi đó ta vẫn còn phải đối đầu với quy luật nhân quả, khi nào thời gian mất hết ý nghĩa thì thời gian mang tính cách nhân quả cũng theo đó mà mất đi ý nghĩa của nó. Trí năng vận hành bên trong một số giới hạn. Vượt ra ngoài các giới hạn ấy, trí năng sẽ trở nên vô nghĩa. Nói đến thời gian và không gian là một thứ gì hoàn toàn phi lý.
Tuy nhiên cách diễn đạt trên đây vẫn chưa làm cho chúng ta hài lòng. Nếu nói thế giới không khởi thủy cũng không chấm dứt thì chúng ta cũng chưa vừa ý và vẫn cứ muốn vượt xa hơn ranh giới đó. Chúng ta phải thường xuyên đối đầu với những thứ mâu thuẫn như thế cho nên chúng ta chẳng bao giờ vừa ý. Còn chạy theo trí năng chúng ta còn chui vào cái ngõ cụt ấy. Chúng ta không thể đi xa hơn, cao hơn, thấp hơn, hay tránh sang một hướng khác. Quả thật hết sức lạ lùng, chúng ta phải dừng lại nơi mà mình đang đứng.
Tại sao chúng ta lại cứ phải đặt ra những cây hỏi mà trí năng không trả lời được ? Nếu tiếp tục nêu lên câu hỏi theo chiều hướng đó thì chúng ta sẽ thấy trí năng thật phù phiếm. Nó chỉ hữu ích khi đem áp dụng vào điện khí, vật chất, năng lượng, khối lượng, tốc độ, v.v... Nó giúp chúng ta xây dựng nhà cửa. Luân Đôn cũng đã thành hình từ các khái niệm về thời gian, không gian, nguyên nhân hậu quả, v.v... Nếu nghĩ rằng có thể sử dụng trí năng để ngự trị cả địa cầu, vô số hành tinh và thái dương hệ thì thật là chuyện hão huyền. Nếu trí năng tỏ ra kiêu căng thì phải loại bỏ nó ngay. Không bao giờ có thể đẩy lý luận đi quá xa ; chúng ta có thói quen dừng lại, tự giam mình trong bốn bức tường và không ngẩng đầu lên, chỉ lay hoay tìm cách đi xuyên ngang bức tường mà thôi. Thật hết sức lạ lùng!
Vì thế nên nhiều người bảo rằng cần phải có đức tin (foi - faith) vì lý luận (raison - reason) không có một giá trị nào cả. Tuy nhiên chúng ta lại đề cập đến đức tin một cách thật vô cùng phi lý... Nếu đúng là đức tin phi lý và đi ngược với lý trí thì đức tin không thể nào tồn tại được ; thế nhưng kinh nghiệm của người xưa lại cho thấy dù cho đức tin có phi lý đến đâu thì nó vẫn cần thiết. Thế là chúng ta lại bị dồn vào chỗ phải nghĩ rằng đức tin không phi lý. Một khi đạt đến giới hạn tột cùng của lý trí thì sẽ có đức tin ; khi lý luận (raison - reason) đạt đến mức cuối cùng của nó, thì chính mức cuối cùng ấy là đức tin. Chúng ta không thể đi xa hơn Trời, xa hơn Thần thánh, khởi thủy không có điểm phát xuất, chấm dứt không hề có giai đoạn cuối cùng ; khi đạt được chỗ tột cùng thì đấy là đức tin, người Phật giáo gọi đức tin ấy là "trực giác" hay prajna (Bát-nhã).
Khi nào chúng ta còn lý luận, thì lúc đó lý trí vẫn còn bị giới hạn. Vượt khỏi các giới hạn đó thì mới hết dậm chân tại chỗ ; thực hiện được sự vượt thoát đó là nhờ vào trực giác, tức là prajna hay đức tin. Đức tin không phải là sự tin tưởng vào một số đối tượng nào đó. Chúng ta thường có thói quen mỗi khi nói đến đức tin thì tìm cách phóng hiện ra trước mặt một cái gì đó và tin vào đấy, rồi gọi đấy là đức tin, tuy nhiên theo tôi đức tin thật sự phải là thứ đức tin không có đối tượng, có nghĩa là tin vào một thứ gì đó không bị đối tượng hóa, vì nó đã vượt thoát khỏi mọi giới hạn. Khi nào còn có đối tượng thì còn có giới hạn, khi vượt thoát giới hạn thì đối tượng cũng không còn. Khi đã vượt thoát giới hạn mà vẫn còn hình dung ra được một đối tượng nào đó thì có nghĩa là ta vẫn chưa hề đạt đến giới hạn. Tiếp xúc với giới hạn có nghĩa là thực hiện được vô biên. Điều đó thật mâu thuẫn đối với trí năng nhưng lại là một sự kiện hiển nhiên đối với trực giác và chính đấy mới là những gì quan trọng hơn cả. Khi nào thực hiện được thể dạng đó thì nên gạt bỏ hy vọng và trí năng, đấy là những gì chúng ta chất chứa từ một sự khởi thủy quá lâu đời.
Một người đệ tử mang hai cành hoa dâng lên Đức Phật. Đức Phật nói: "Hãy ném nó đi". Người đệ tử hiểu là phải ném bỏ hai cành hoa, bèn vứt bỏ ngay. Đức Phật lại nói thêm: "Ném nó đi thật xa", người đệ tử hoang mang không biết phải ném cái gì bây giờ. Đức Phật nói tiếp:"Hãy ném cái tôi của con đi thật xa !" Làm thế nào người đệ tử có thể tự ném mình đi nơi khác khi nghĩ mình vẫn còn sờ sờ ra đó? Bởi vì nếu người đệ tử nghĩ rằng mình không còn ở đó thì lấy bàn tay của ai để ném? Khi người đệ tử nói đến "bàn tay" thì tự nhiên ta nghĩ đến có một cái gì đó, vì nếu ta không thừa nhận bất cứ thứ gì thì các cành hoa văng đi đâu và Đức Phật đi về đâu ? (một cách lý luận lẩn quẩn do trí năng điều khiển). Tuy nhiên tất cả những thứ ấy đều do tác động của trí năng thúc đẩy mà có. Dù cho chúng ta có thể tự hỏi không biết các dân tộc Đông phương có chịu ảnh hưởng của lý trí và trí năng hay không nhưng khi đi đến điểm dừng lại thì họ cũng sẽ không biết phải làm gì, và lúc không còn biết phải làm gì thì chính lại là lúc đạt được sự hoàn thiện trọng đại nhất.
Tất cả các tôn giáo đều xuất phát từ điểm đó. Nói đến đức tin là một cách tự đặt mình vào lãnh vực lạm dụng sự lý luận (ratiocination) khiến chúng ta nghĩ ngay đến một đối tượng nào đó để đức tin bám vào. Nếu diễn đạt trên phương diện siêu hình thì có thể bảo rằng toàn thể thế giới này chỉ là một sự tạo dựng của trí năng. Khi nêu lên điều ấy thì chúng ta có thể nghĩ rằng đấy là một thứ gì vô cùng tối nghĩa, nhưng thật ra thì không đúng thế.
Một thiền sư Zen có nói như sau : "Chúng ta không thực sự nhìn thấy một cành hoa, chúng ta chỉ nhìn thấy cành hoa xuyên qua một giấc mơ. Chúng ta nhìn nhau, người này nhìn người kia, tương tợ như nhìn thấy nhau trong một giấc mơ". Tốt nhất là không nhìn thấy một cái gì hết. Khi nào không nhìn thấy bất cứ gì cá biệt thì đấy là cách mà ta nhìn thấy tất cả.
Đến đây chúng ta sẽ đề cập đến một điểm khá khó. Trên đây tôi có nói đến "sự tạo dựng của trí năng ". Khi Đức Phật đạt được giác ngộ thì Ngài đứng trên cương vị của người nêu lên câu hỏi để cùng với câu hỏi hòa nhập vào nhau. Trước khi thực hiện được việc đó, Đức Phật từng nêu lên câu hỏi là phải làm thế nào để thoát ra khỏi chu kỳ sinh tử, câu hỏi vượt ra khỏi Ngài. Ngài nắm lấy nó như là một thứ gì ở bên ngoài sẵn sàng tiếp nhận một giải pháp do trí năng mang lại. Dù gắng sức bằng đủ mọi cách Ngài vẫn không đạt được giác ngộ. Ngài tuyệt vọng đến cùng cực. Khi sự bất lực đạt đến tột đỉnh, không sao tìm ra được giải pháp Đức Phật không tìm cách vượt ra ngoài tâm thức nữa: với cương vị người đặt câu hỏi Ngài và câu hỏi đã đồng nhất để trở thành "một". Vì thế không còn có câu hỏi nào vượt khỏi Ngài để hiện ra như một thứ gì đó với mục đích đón chờ một giải pháp. Trước đây Đức Phật đi sai đường khi đặt câu hỏi ra bên ngoài Ngài. Nếu câu hỏi ở bên ngoài Ngài, thì giải pháp cũng phải đến từ bên ngoài, thế nhưng khi câu hỏi và người hỏi đã trở thành một thì giải pháp lại hiện ra từ bên trong Ngài. Câu hỏi trước đây khiến Ngài phải lo lắng, thế nhưng khi câu hỏi không còn làm cho Ngài ray rứt như một thứ gì đó trước mặt, hiện ra một cách khách quan, và khi mà câu hỏi đến với tôi và tôi đến với nó, đấy không phải là một sự chuyển động vật lý trong không gian mà chỉ là một thể dạng siêu hình, và sự đồng nhất hóa sẽ xảy ra, đấy là thiền học Zen. Xuyên qua trí năng chúng ta có thể thắc mắc: "Làm thế nào chuyện ấy lại có thể xảy ra được?" Thật là phi lý. Thế nhưng khi có nó là có nó, và sau đấy ta mới có thể lý luận được. Đấy là con đường tiếp cận của một thiền sư. Khi một người đệ tử hỏi: "Tôi là ai ? ", vị thiền sư chẳng những không giải thích một lời nào mà còn đánh người đệ tử, bởi vì đối với sự giác ngộ đặt câu hỏi là một thứ gì ngu xuẫn nhất, và tên ngu đần nào mà lại chẳng đáng đánh đòn.
Có một trường hợp khá lý thú về một phụ nữ người Mỹ tên là Helen Keller, bà vừa mù, vừa điếc, lại vừa câm, thế nhưng người ta cứ cố gắng dạy cho bà ta hiểu là bất cứ thứ gì cũng có một tên gọi (đối với một người mù, điếc và câm thì tên gọi không mang một ý nghĩa gì cả). Khi con chó được một miếng thịt, nó biết rằng đấy là thịt, nếu không còn miếng thịt nào thì nó cũng không thể nói đến thịt, vì muốn chỉ định "thịt" bằng một tên gọi thì trước đó con chó phải có sẵn một khái niệm, vậy bắt buộc nó phải là người (chỉ có con người mới biết tạo ra khái niệm). Khi miếng thịt không còn, nó cũng không hề có một khái niệm nào về thịt; chỉ định một thứ gì bằng tên gọi là một chuyện đại sự. Khi chúng ta chỉ định thế giới bằng tên gọi thì thế giới sẽ trở thành hiện hữu.
Khi ta tìm ra một từ nào đó, thì đấy là điểm khởi đầu của tri thức. Tri thức chính là khả năng tự tách rời ra khỏi cái ngã. Đức Phật tự tách rời với mình khi Ngài nêu lên câu hỏi, người hỏi và câu hỏi vượt ra khỏi Ngài. Khi thực hiện được sự giác ngộ câu hỏi trở về với người hỏi. Thế nhưng nếu câu hỏi không thoát ra từ người hỏi, thì làm thế nào nó có thể trở về với người hỏi. Sự kiện quay trở về ấy thật cần thiết.
Đấy là cả một sự huyền bí: tại sao phải cần nêu lên câu hỏi khi mà câu hỏi phải quay trở về để mang theo câu trả lời cho chính nó? Nếu như ta cho rằng không hề có chuyện hỏi hay trả lời nào cả thì đấy chỉ là phản ứng của trí năng. Trên thực tế chúng ta hỏi, chúng ta nhận được câu trả lời và chúng ta hài lòng. Vỏn vẹn có thế. Và mọi sự sẽ xuất phát từ đấy.
Vì thế khi tôi nói câu hỏi trở thành một với câu trả lời thì cũng tương tợ như nói Trời suy nghĩ thì thế giới hiện ra. Thế giới là tư duy (pensée - thougth) của Trời, một vài nhà thần học gọi đấy là "ý chí của Trời". Cái ý chí ấy phát động bên trong Ông ta và ý chí ấy là sự sáng tạo thế giới. Ý chí của Trời là hoạt động sáng tạo và ý chí tức là tư duy. Nêu lên câu hỏi tức là tự tách rời khỏi chính mình. Sự kiện muốn chỉ có thể xảy ra khi nào có một cái gì đó để muốn, vì thế Đức Phật phải tự phân tách mình để nêu lên câu hỏi. Khi sự phân tách xảy ra thì có tư duy; và cũng như thế, muốn tức là suy tư, suy tư tức là muốn.
Chúng ta có thể nói rằng đối với Trời không có sự phân biệt giữa muốn, suy tư và hành động. Chúng chỉ là một. Cũng thế nếu ta là một với Trời thì ta cũng là một với ta. Vì thế tất cả chúng ta đều là Trời. Các người Thiên chúa giáo cho rằng đồng hóa thân xác xương thịt này với Trời (nghĩ rằng ta là thân xác vật chất tức là tự giới hạn mình trong lãnh vực trí năng - giải thích của D.T. Suzuki trong nguyên bản) là một điều phạm thánh bởi vì chỉ có Chúa (Christ) mới có thể là Trời được mà thôi, thế nhưng khi ta gán tính cách thiêng liêng cho Chúa và cho Trời thì phải có một cái gì đó mang tính cách thánh thiện trong ta thì ta mới có thể phát biểu như thế. Nếu chẳng có gì thánh thiện trong ta thì chẳng bao giờ ta có thể nói đến sự thánh thiện.
Đủ sức nêu lên một câu hỏi tức có nghĩa là câu trả lời đã có sẵn trong ta, nếu không thì chẳng có một câu hỏi nào có thể thốt lên được. Cũng thế, nói đến Trời có nghĩa là ta có một chút gì đó của Trời trong ta. Khi nắm vững được điều ấy thì đấy là Shin shu (tu Tâm) hay cõi Tịnh độ. A-di-đà không phải là một người nào đó sống cách nay đã nhiều năm và sử dụng prajna (Bát-nhã) để cứu độ tất cả chúng sinh: chính ta là A-di-đà. Đạt được điều đó là thực hiện được đức tin Shin (Tâm). Prajna (Bát nhã) phát sinh từ cái ngã của chính mình. Khi nào vượt ra khỏi giới hạn trí năng của cái ngã hạn hẹp, trói buộc trong điều kiện, thì cái vỏ ấy sẽ vỡ tung và ta sẽ tìm thấy thực thể của chính mình và một cái gì đó vượt lên trên cái vỏ tự ngã ấy. Vào lúc đó và từ cái thực thể ấy, từ cái thể dạng siêu nhiên ấy, từ sự xuyên thấu ấy, prajna dharma (đạo-pháp bát-nhã) vô tận sẽ phát hiện để cứu độ tất cả chúng sinh. Chúng ta không bao giờ có thể tự cứu lấy mình được nếu chúng ta chưa cứu được mình một cách toàn vẹn như là một nhất thể, không phải một nhất thể mang tính cách cá nhân hạn hẹp mà tất cả các nhất thể cá nhân kết hợp lại thành một tổng thể ; để rồi từ đó lòng từ bi đích thực sẽ hiển lộ.

Bures-Sur-Yvette, 31.10.10
Hoang Phong (chuyển ngữ)


Saturday, April 12, 2014

Những vị Bồ Tát khai sáng Tịnh Độ (Phần 7) - PHÁP NHIÊN THƯỢNG NHÂN

PHÁP NHIÊN THƯỢNG NHÂN
      tức Hônen Shonin (1133C-  1212)
           



Pháp Nhiên Thượng Nhân là khai tổ của tông Tịnh-Độ Nhật-bản, Ngài sinh năm 1133.
Thân phụ của Ngài là một vị quan coi sóc việc trị an vào thời đó, do đã quá tứ tuần mà vẫn chưa có con nối dõi nên cha mẹ Ngài đã trai giới thanh tịnh rồi vào chùa tụng kinh bảy ngày để xin Phật gia hộ. Đến đêm thứ bảy, trong lúc nửa tỉnh nửa mê, mẹ ngài mộng thấy một vị Lão Tăng đưa cho bà một con dao dùng để cạo đầu người xuất gia, bảo bà nuốt. Sau đó, bà hoài thai, thân phụ Ngài đoán rằng sẽ bà sẽ cho chào đời một cậu con trai,  sau này xuất gia sẽ là một vị đại sư  xuất chúng, lỗi lạc.
Từ khi mang thai Ngài, thân tâm của mẹ Ngài an lạc lạ thường, bà phát tâm ăn chay trường và thâm tín tam bảo. Khi đản sinh Ngài có hai luồng hào quang ở trên không chiếu xuống, tiếng chuông lảnh lót. Đầu Ngài vuông vức như có góc, mắt hai tròng, tướng mạo phi phàm.
Năm Ngài lên chín, phụ thân Ngài bị địch nhân sát hại, trước khi qua đời gọi Ngài tới mà dạy rằng:
Này con, đây là ác nghiệp từ nhiều kiếp trước của cha mà cha phải gánh trả, tuyệt đối không nên ôm hận báo thù! Nếu mang cái tâm báo thù thì đời đời kiếp kiếp phải giết hại lẫn nhau không bao giờ dứt. Mình biết đau thì người khác cũng biết đau. Ta biết quý mạng sống thì người khác cũng biết quý mạng sống. Con đã được làm thân người, hãy cầu vãng sinh Cực Lạc, lợi lạc bình đẳng cho mình và người.
Dặn dò xong xuôi, cha Ngài lớn tiếng niệm Phật mà an ổn qua đời.
Năm mười bốn tuổi, tuân theo di ngôn của thân phụ, Ngài xuất gia với Pháp sư Giác Quán ở chùa Bồ-Đề tại quê nhà. Ngài huệ giải mẫn tiệp, pháp sư Giác Quán thấy Ngài có tướng mạo đặc biệt, kỳ lạ, chẳng giống như những kẻ phàm phu, không nỡ để Ngài bị mai một, nên đưa Ngài lên Tỷ Duệ Sơn, một tự viện nổi tiếng ở kinh đô để theo học với pháp sư Nguyên Quang.
Đến ở Tỷ Duệ Sơn không bao lâu thì pháp sư Nguyên Quang bảo rằng: Đây là tuấn mã, không thể để uổng phí ở đây. Rồi đưa Ngài đến A-xà-lê Hoàng Viên một bậc đại sư của tông Thiên Thai thời đó. Vừa mới thấy Ngài, tổ Hoàng Viên liền nói: Hồi hôm ta nằm mộng thấy một vầng trăng tròn chiếu vào chùa, phải chăng đây là điềm lành báo trước?
Rồi thu nhận Ngài làm đệ tử, bấy giờ Ngài mới mười lăm tuổi.
Chưa đầy ba năm sau, Ngài đã thấu triệt tất cả giáo nghĩa vi diệu bí mật của tông phái Thiên Thai, tổ Hoàng Viên đã có ý trao truyền tổ vị cho Ngài, nhưng Ngài không muốn bị ràng buộc bởi danh lợi, nên đã quyết tâm ra đi. Năm mười tám tuổi, Ngài ẩn tu ở núi Hắc Cốc, tham học với Hòa Thượng Duệ Không, một bậc long tượng của Mật Tông thời bấy giờ, thấy Ngài khí độ khác thường, dù rằng tuổi còn nhỏ mà không cần phải chấp lễ, nên đặt pháp hiệu cho Ngài là Pháp Nhiên, nghĩa là Pháp Vốn Như Vậy. Và pháp danh là Nguyên Không, lấy chữ Nguyên của đại sư Nguyên Quang, và chữ Không của đại sư Duệ Không.
Tại đây, Ngài đã được truyền thụ viên thừa đại giới. Không những thông tuệ, Ngài còn  rất hiếu học, tất cả Kinh Luật Luận đều được Ngài duyệt đọc cẩn thận. Ngài còn nghiên cứu tường tận về mọi tông phái, không những thế, Ngài còn đọc khắp sách vở thế gian, đủ mọi tác phẩm của bách gia Trung Hoa lẫn Nhật Bản. Ngài từng nói rằng, bất cứ kinh điển hay sách vở gì hễ Ngài đọc qua vài lần là tự nhiên thấu triệt, không cần phải suy nghĩ. Bởi thế, Ngài tinh thông mọi tông phái, mà không cần phải học với ai cả. Ngài duyệt đọc Đại Tạng Kinh cả thảy năm lần, được đương thời tôn xưng là trí huệ đệ nhất.       Về phương diện tu học, Ngài cũng có rất nhiều kiến giải kỳ đặc và cảm ứng lạ lùng. Có lần Ngài nhập thất 21 ngày tu môn Pháp Hoa tam-muội, cảm đức Phổ Hiền cỡi voi trắng đến chứng minh, thiên binh thần tướng hiện hình ủng hộ. Khi Ngài duyệt đọc kinh Hoa Nghiêm, lúc nào cũng xuất hiện một con rắn nhỏ màu xanh nằm khoanh trên bàn, thị giả thấy vậy lấy làm sợ hãi vội đem ra ngoài, khi trở vào lại thấy con rắn nằm yên như cũ. Đêm ấy, chú thị giả mộng thấy một con rồng lớn đến bảo rằng: Tôi là Long-thần thủ hộ kinh Hoa Nghiêm, xin đừng sợ hãi.
Mỗi lần Ngài nhập thất tu chơn ngôn Mật Giáo là cảm ứng vô số điềm lành như liên hoa, bảo châu… Có nhiều lần,  Ngài  đọc  kinh  ban  đêm, mà không cần đốt đèn, ánh sáng thường phát ra từ trán của Ngài hoặc từ trong thất. Những điềm lành như vậy kể ra không xiết.
Nhưng dù vậy, Ngài vẫn còn băn khoăn, chưa thật sự an tâm. Trong Đại Tạng Kinh, Ngài hâm mộ nhất là bộ Quán Kinh Sớ của tổ sư Thiện Đạo. Ngài đọc đi đọc lại nhiều lần bỗng nhiên cảm ngộ được ý chỉ của Bản Nguyện đức A Di Đà. Ngài vô cùng hoan hỉ chẳng khác gì đi trong đêm tối mà gặp được ngọn hải đăng sáng soi. Ngài bèn từ bỏ tất cả pháp môn đã và đang tu, rồi nhập thất chuyên tu Tịnh-Độ, niệm Phật vãng sanh.
Trong thời gian nhập thất để chuyên ròng niệm Phật, Ngài mộng thấy Tổ sư Thiện Đạo đến bảo rằng: “Tôi là Thiện Đạo đời Đường, biết ông có thể hoằng dương pháp môn chuyên tu niệm Phật nên tôi đến chứng minh. Từ nay ông có thể hoằng pháp khắp cả bốn phương”.
Năm 43 tuổi, Ngài rời Hắc Cốc đến trụ trì Đông Các Tự và khai sáng tông Tịnh-Độ. Trước đó ở Trung-hoa và Nhật-bản, tuy có rất nhiều người niệm Phật và nghiên cứu kinh điển Tịnh-Độ, nhưng chưa hề thành lập một tông Tịnh-Độ riêng biệt, từ đây tông Tịnh-Độ xuất hiện và liên tục truyền thừa cho đến thời hiện đại ở Nhật Bản.  Đây là điểm thật đặc sắc, cần lưu ý: Ở Trung Hoa chưa hề có tông Tịnh Độ và dĩ nhiên không hề có sự kế thừa.
Các đại sư hoằng dương Tịnh-Độ ở Trung Hoa đều có tính cách tự phát, và chỉ hoằng truyền ở trong đời các Ngài mà thôi. Từ khi Ngài Pháp Nhiên khai sáng tông Tịnh-Độ, những cảm ứng linh diệu cũng nhiều không thể tính đếm được. Xin thuật lại đôi điều để tăng thêm lòng kính tín.
Đương thời, tể tướng Đằng Nguyên rất ngưỡng mộ thượng nhân, có lần thỉnh Ngài vào điện Nguyệt Luân để tham vấn về ý nghĩa của tông Tịnh Độ. Giảng xong, Ngài từ biệt ra về.
Khi đi đến cây cầu ở trước điện, bỗng thấy ông tể tướng quỳ lạy dưới đất không cầm được nước mắt, giây lát quay lại hỏi các người tùy tùng rằng : vừa rồi các ngươi có thấy trên đầu của thượng nhân phát hào quang, dưới chân có hoa sen đỡ rời khỏi mặt đất, hình dáng giống như đức Đại Thế Chí hay chăng ? Có người thấy, có người không. Từ đó cây cầu này được đặt tên là cầu Viên Quang.
Có lần cử hành niệm Phật nhập thất 21 ngày ở chùa Linh Sơn, vào nửa đêm ngày thứ năm, có vài người thấy đức Đại Thế Chí cùng với đại tướng kinh hành niệm Phật nên vội phủ phục xuống mặt đất mà cung kính đảnh lễ. Giây lát hào quang chiếu lên từ hình đức Đại Thế Chí biến thành hình dáng của thượng nhân. Do đó mới biết Ngài là hóa thân của đức Đại Thế Chí.
Từ khi thượng nhân sáng lập tông Tịnh-Độ thì cơ duyên hóa độ thịnh hành vô cùng. Từ vua chúa, công khanh cho đến hàng dân dã đều quy ngưỡng Ngài. Và hẳn nhiên cũng không ít người ganh ghét Ngài. Do lỗi lầm của đệ tử, Ngài bị vu cáo và bị đi đày một thời gian ngắn, nhưng Ngài vẫn an nhiên dạy đạo cho bất cứ ai đến tham vấn mà không hề phân biệt. Nhờ lần bị đi đày này mà nhiều người được cơ duyên gặp Ngài và vâng theo lời dạy của Ngài mà niệm Phật rồi được vãng sanh.
Ngài vãng sanh vào giữa trưa ngày 25 tháng 9 năm 1212 (lúc 80 tuổi).
Ngài nói với đệ tử: “Tiền thân của thầy là một vị tăng Thanh-văn bên Thiên Trúc thường tu hạnh đầu đà, nay đến chốn này học Thiên Thai Tông, sau hâm mộ Tịnh-Độ Tông, hoằng dương niệm Phật”.
Đệ tử Thiếu Quán hỏi :
- ”Thưa Thầy, vị tăng Thanh Văn nào ?”
- Là Xá Lợi Phất!
Lại có đệ tử hỏi:
”Thầy nay có được vãng sanh về cõi Cực Lạc không ạ?
Ngài đáp: “Thầy vốn là người Cực Lạc, thì dĩ nhiên là phải về Cực Lạc chứ còn đi đâu nữa!”.
Các đệ tử có đúc tượng A Di Đà và thỉnh Ngài chiêm ngưỡng. Ngài hỏi rằng:
”Các con có thấy đức A Di Đà ở trên hư không chăng? Từ hơn mười năm nay, ta thường thấy đức A Di Đà cũng như cảnh giới trang nghiêm của Cực Lạc, nhưng chưa hề nói với ai. Nay sắp lâm chung thì ngại gì mà không nói cho các con hay biết”.
Vào ngày 22 tháng 9, (trước khi lâm chung 3 ngày), các đệ tử thấy một người phụ nữ đến xin gặp riêng Ngài. Hai vị nói chuyện rất lâu, đến khi bà ấy ra về, Thiếu Quán lấy làm kinh dị nên lén đi theo một khoảng xa, đột nhiên thấy bà ấy biến mất.
Thiếu Quán hỏi Thượng Nhân, thì Ngài đáp :
- ”Bà ấy chính là Vi-Đề-Hy phu nhân”.
Từ ngày 23 cho đến 25, Ngài lớn tiếng niệm Phật cùng với đại chúng để kết duyên lần cuối. Đến giữa trưa ngày 25 ngài đắp y tăng-già-lê, nằm nghiêng bên phải, đầu hướng về phía Tây, tụng bài kệ :
Quang minh biến chiếu,
thập phương thế giới,
niệm Phật chúng sanh,
nhiếp thủ bất xả “.
Rồi Ngài an nhiên thị tịch, thọ 80 tuổi, tăng lạp 66.
Trước khi Ngài thị tịch 5 ngày, mây ngũ sắc giống như tranh Phật che phủ khắp chùa khiến cho tất cả đại chúng trông thấy đều cảm xúc, rưng rưng nước mắt. Mười sáu năm sau, đại chúng mở tháp đá đựng di thể của Ngài ra, thấy toàn thân vẫn tươi tốt y như người còn sống, dung mạo từ hòa. Cả đệ tử tăng tục hơn một ngàn người hộ tống di thể của Ngài về Tây Giao làm lễ trà tỳ.
Trong khi hành lễ, mây lành hiện ra, hương thơm phảng phất trên khắp các cây tùng. Nên từ đó nơi này được gọi là Tử Vân Tùng, nay là chùa Quang Minh.
Tác phẩm quan trọng nhất của Ngài là: ”Tuyển Trạch Bổn Nguyện Niệm Phật Tập” sắp được chuyển dịch ra Việt-ngữ.

Những vị Bồ Tát khai sáng Tịnh Độ (Phần 6) - NGUYÊN TÍN (Genshin Shônin)

NGUYÊN TÍN
tức Genshin Shônin (941-1017)



          Xuất thân từ Thiên Thai Tông, một tông phái tổng hợp như Thiên Thai Tông ở Trung Hoa, vay mượn sự tu tập từ công phu Niệm Phật của Tịnh-độ Trung-hoa. Ngài là một trong vài nhân vật đầu tiên khởi xướng pháp môn Niệm Phật ở Nhật-bản (như Không Dã thượng nhân, Nhất Biến thượng nhân…), có ảnh hưởng lớn lao đến ngài Pháp Nhiên và Thân Loan về sau.

NGUYÊN TÍN TỔ SƯ
dưới cái nhìn của thiền sư Bankei

Ngàn vị Phật.
               Sư Bankei viếng Katada và đến lễ nơi thờ một ngàn vị Phật. Những tượng Phật này do hòa thượng Nguyên Tín (Genshin) của Tịnh Độ Tông tạc bằng đá. Dân trong vùng ấy đều sống bằng nghề chài lưới. Khởi đầu, Nguyên Tín dựng một tòa nhà và đặt vào đó một tượng Phật, ngài dạy dân trong vùng ấy như sau:
               ”Nếu miệng các ngươi xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà trong khi tay các ngươi quăng lưới, thì chắc chắn các ngươi sẽ lưới được nhiều cá”.
               Bây giờ, trải qua bao nhiêu thế kỷ, thế mà truyền thống niệm Phật khi thả lưới buông câu ấy vẫn không thay đổi, lời dạy này đã biến thành tập tục tín ngưỡng của địa phương.
               Khi trở về Yamasina, Bankei nói: ”Nguyên Tín quả thật là có tâm đại từ đại bi của một vị Bồ-tát nhất-xiển-đề. Thật đáng thán phục”.
               Mọi người tán thán:
               - ”Sư Bankei quả thật là một bậc có tâm hồn đồng điệu với hòa thượng Nguyên Tín nhưng được sinh vào một thời đại khác !”

Trích trong cuốn Tâm Bất Sanh, ngữ lục của Bankei.

Trí Hải dịch. Trang 227.

Thursday, April 10, 2014

GIÁO HÀNH TÍN CHỨNG - THÂN LOAN thánh nhân (Phần 3)




(15)
Qua các lời dạy chân chánh của Đấng Tòan Giác và của các Luận sư, Tổ sư trong pháp môn chúng ta,  tôi thấy rõ rằng, tất cả đều minh chứng Cõi Nước Trong Sạch Thanh Tịnh như là Cõi Chân Thật của Cực Lạc (Cực Lạc Chân Độ).
Những chúng sanh tràn đầy ảo tưởng và nhơ bẩn  thì không thể nào thấy thế giới này đồng nhất với Bản Chất của Phật (Phật Tánh), bởi vì tâm thức của họ bị che lấp bởi tham dục. Vì vậy, kinh Đại Bát Niết Bàn đã ghi:
“Như Lai khẳng định rằng, ngay cả chư Bồ-tát ở địa vị Thập-trụ cũng chỉ thấy một phần rất nhỏ Phật-tánh (Thể Tánh của Phật).
Ngược lại, tôi biết rằng khi đặt chân lên Cõi Miền Thanh Tịnh của Phật, nhất thiết tôi phải được khai thị về Phật-Tánh, và việc ấy tùy thuộc vào sự cải biến tâm linh được điều động bởi năng lực Bản Nguyện A Di Đà.


 (16)

Kinh Đại Bát Niết Bàn còn ghi rằng:
“Trong một tương lai về sau, các chúng sanh sẽ có một thân thể trong sạch, được trang nghiêm rực rỡ bằng vô số công đức, vì họ đạt được sự thấy biết về Phật Tánh.”
Tại sao lại có những  phần thưởng vi diệu  như vậy? Bởi vì, những lời nguyện lớn rộng như đại dương của Đấng Toàn Giác đã tạo ra những kết quả và những phước báo vi diệu được hiện hữu nơi cõi nước kia. Do đó, mới gọi cõi nước ấy là “Cõi Cực Lạc”.
Giữa những lời thệ nguyện bát ngát thẳm sâu như đại hải, có những hệ quả chân thật và những hệ quả tạm thời. Ây là lý do tại sao  khi nói về thể tánh của Cõi Phật, người ta phân định thế nào là thể tánh chân thật, thế nào là thể tánh tạm thời.
          Do vì nguồn căn thực sự của “Bản Nguyện tuyển chọn đặc biệt” đã được minh chứng bởi Cõi Nước Chân Thật của Phật, và cũng để nêu rõ Đức Phật Chân Thật mà kinh Vô Lượng Thọ đã phải nói về “Đức Phật của ánh sáng không giới hạn, vô lượng vô biên” và về “Đức Phật của ánh sáng không bị ngăn ngại”… v…v…
Bản kinh Đại A Di Đà nói:
“Ở giữa hết thảy chư Phật, thì A Di Đà là vị chúa tể!  Ở giữa tất cả các loại ánh sáng, A Di Đà là ánh sáng tối thắng, tối tôn, tối diệu…
Ngài Thiên Thân, tác giả bộ Vãng Sanh Luận đã nói: “Con xin trở về nương tựa nơi Đấng Toàn Giác mà ánh sáng của Ngài chiếu rọi khắp mười phương, không bao giờ bị ngăn ngại...”
Về thể tánh của Cõi Chân Thật, thì bản kinh Vô Lượng Thọ ghi rằng:
“Đó là Cõi Miền của ánh sáng không thể đo lường được, vượt ra ngoài mọi khái niệm của chúng sanh…”
Bản kinh “Vô Lượng Thọ Như Lai Hội” do ngài Bồ-đề Lưu-chi dịch (năm 706), đã chép:
“Cõi Cực Lạc chính là cõi Viên Giác, cõi Chánh Giác, cõi Toàn Giác, Trí Tuệ Viên Mãn”.
Vãng Sanh Luận cũng còn nói:
“Rốt cuộc, cõi Cực Lạc có thể tánh tương tự như vũ trụ không gian: rộng lớn, bao la, dàn trải vô giới hạn, không có bờ mé… Vì đó là cõi của Tâm, tức Chân Tâm (Tâm Chân Thật), cõi của Giác Ngộ Tâm Linh  mà bất cứ khái niệm nào của lý trí nhị nguyên cũng không thể vươn tới được.              
Vắn tắt, có thể nói: “Cõi Cực Lạc chính là cõi của Nam mô A Di Đà Phật, cảnh giới thọ dụng của Danh Hiệu…”

 

(16)

 

Khi tôi trầm tư sâu sắc về Đức Phật và Cõi Nước Chuyển Hóa, tôi mới thấu triệt rằng, đó là đức Phật được diễn tả qua bản kinh Quán Vô Lượng Thọ, trong pháp thiền-quán thứ chín về Chân Thân của Phật.

Cõi Tịnh-độ được quán tưởng theo lời dạy của kinh Quán Vô Lượng Thọ, chính là Cõi Nước Chuyển Hóa mà thôi.  Cõi nước ấy cũng tương tự như Thế Giới Đãi Nọa (thế giới uể oải lười biếng) được nhắc đến qua bản kinh “Bồ-tát Xử Thai Chuyển Thế Kinh” và các văn bản khác: Cõi Nước Chuyển Hóa hoàn toàn tương ứng với Cung Điện Thai Sen hoặc Lâu Đài Nghi Ngờ thường tọa lạc tại Giải Mạn Quốc được trích dẫn từ bản kinh Sức Sống Không Cùng Tận (Vô Lượng Thọ kinh).                      
Thật ra, trong thế giới dơ bẩn này, đa số chúng sanh dẫu có ý thức xấu ác và bất tịnh, vẫn có thể khéo léo thoát khỏi những đường lối lầm lẫn của chín mươi lăm học phái tà kiến, để bước thẳng vào giáo lý đạo Phật, hoặc là giáo lý đầy đủ hoặc là giáo lý khiếm khuyết đôi ba phần - do những cơ duyên tạm thời hoặc do những quyết định dứt khoát.        
Bởi vì, gặp được Đạo Phật Chân Chánh quả là khó khăn biết bao: chúng ta cứ phóng tầm mắt  nhìn quanh, có mấy ai hội đủ nhân duyên hi hữu để vươn tới Đạo Phật Chân Chánh? Trong khi phần đông chúng sanh đều ngoan ngoãn cúi đầu vâng theo những thứ giáo lý tạp nhạp được diễn dịch sai lầm (20) và hầu hết mọi người đều lẩn quẩn miệt mài với những công phu chưa chín tới, những lối thực hành huê dạng, màu mè hình thức như mê đắm công quả, tom góp phước báo, lăng xăng hành thiện, cúng dường bố thí ...v...v...
Phần đông chúng sanh đều ôm ấp những mục tiêu tệ hại như vậy, chỉ vì họ say mê dồn chứa phước báu hữu lậu và tích lũy công hạnh, nên họ muốn đức  Thích Ca Mâu Ni một mực cứ thuyết giảng về sự bòn mót, kiếm chác công đức mà thôi.
Điều này thật dễ hiểu: khi chưa tu tập, người ta có khuynh hướng tom góp tài sản, cất giấu tiền bạc càng ngày phải càng nhiều hơn - khi bước vào ngõ tu hành, người ta vẫn đèo queo cái thói quen cũ bằng cách dồn chứa công đức sao cho ngày một nhiều hơn. Đó là căn bệnh trầm trọng sẵn có của tất cả chúng sanh.
Đức A Di Đà, đấng Toàn Giác, biết bệnh của chúng sanh muôn thuở đều như vậy, nên Ngài quyết tâm chữa lành cho kỳ được, bằng phương thức cải biến tâm linh của chúng sanh một cách triệt để hoàn toàn. Cải biến như thế nào, để giúp chúng sanh thực hiện những bước khởi đầu?
Đó là lý do tại sao Lời Nguyện thứ 19 đã xuất hiện, góp mặt vào cuộc sống chúng ta. “Lời Nguyện mong ước chúng sanh gieo trồng tất cả các loại công đức”, hoặc là “Lúc sắp lâm chung, đức Phật sẽ hiện thân trước mặt”.  Và còn nữa:”Đức Phật hứa sẽ hiện thân để tiếp dẫn qua miền Cực Lạc”, hay là :”ước mong sao mọi người sẽ phát khởi Tâm Chuyên Nhất,  Tâm Thành Khẩn…”
Nguyên văn “Lời Nguyện thứ 19 dược dẫn từ bản kinh Vô Lượng Thọ như sau:
“Khi tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương phát khởi tâm thái giác ngộ (bồ-đề tâm), gieo trồng các loại công đức, và dấy khởi lòng thành khẩn mà ước nguyện sanh về cõi nước tôi, đến lúc lâm chung nếu tôi cùng chư vị thánh chúng chẳng hiện thân trước người ấy để đón rước, thì tôi thề không chấp nhận địa vị Toàn Giác”.
Sự thành tựu lời nguyện này được trích dẫn  từ đoạn kinh văn diễn tả về Ba Cấp Bậc Của Sự Vãng Sanh,  hoặc diễn tả các pháp quán tưởng để được vãng sanh Cực Lạc.  Đó là pháp quán tưởng thứ 14, 15, 16  trong bản kinh Quán Vô Lượng Thọ, đồng thời trình bày Chín Phẩm Vãng Sanh của các vị thượng thiện nhân ở cõi Tinh-độ qua các phương tiện thiền-quán hoặc phi-thiền-quán…



 (17)

Ngược lại,  tổ sư Nguyên Tín, bậc Thầy về Thủ Lăng Nghiêm (le Maitre du Shuryôgon), trong chương “Những Chứng Cứ Về Hiệu Quả của sự Niệm Phật”  đã triển khai đề tài : “Lời Nguyện thứ 18 là Lời Nguyện Chọn Lọc Nhất trong các lời nguyện được tuyển chọn”. 
 Đối với tất cả các vị thiện hữu đang sử dụng những công phu tu tập thiền quán và phi thiền quán  được xiển dương bởi Quán Vô Lượng Thọ Kinh, ngài Nguyên Tín nhấn mạnh tha thiết rằng: những kẻ đa mang đủ loại tội chướng nặng nề, chỉ cần thành khẩn thốt lên: “Nam mô A Di Đà Phật’’ thì tức khắc, bao nhiêu tội chướng liền bị tiêu diệt hoàn toàn, và sẽ cảm nhận một nỗi bình an, hạnh phúc bất tuyệt…
Hỡi những bậc Tăng sỹ cũng như cư sỹ trên thế giới ô nhiễm này, xin quý vị hãy đối diện với chính mình và tự thẩm tra năng lực của bản thân một cách nghiêm túc.
Chỉ có vậy thôi!


(18)
  
Về khía cạnh khác, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã mở bày Kho Tàng Công Đức của chánh pháp tối thượng - kế tiếp là phần việc của đức A Di Đà, đấng Toàn Giác: để cải biến tâm linh tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới ác trược này, đức A Di Đà đã công bố một lời hứa hẹn tương quan đến cứu cánh giải thoát rốt ráo và những nhân tố chân chánh đưa đến cứu cánh tối hậu ấy. Lời hứa hẹn nêu trên, phát khởi từ lòng đại bi, chính là nhằm mục đích dẫn dắt hết thảy chúng sanh tới bến bờ trí giác.
Đại Bi Thệ Nguyện thứ 20 còn gọi là “Lời Nguyện ước mong chúng sanh thường xuyên niệm Phật như là gieo trồng gốc rễ của mọi công đức vô lậu”. Ngoài ra, còn gọi là: “Lời Nguyện bảo đảm chắc chắn vãng sanh bởi chuyên nhất tư tưởng mà nghĩ nhớ đến cõi nước tôi...” (hệ niệm ngã quốc). Và còn gọi là: “đem tâm chí thành, hồi hướng công đức...“  
Nguyên văn Lời Nguyện Thứ 20 là:
Khi tôi thành Phật, tất cả chúng sanh khắp mười phương nghe danh hiệu tôi mà chuyên nhất tư tưởng hướng về cõi nước tôi, gieo trồng Gốc Rễ của tất cả công đức, và đem tâm thành khẩn hồi hướng công đức để vãng sanh trong cõi nước tôi - nếu không có được kết quả như ý  mặc dù đã thực hiện những điều cần thiết, thì tôi thề không chấp nhận địa vị Toàn Giác.”
Bản kinh Vô Lượng Thọ còn đi xa hơn: “Những kẻ nào còn hoài nghi các tri thức đạo lý vừa nêu trên, và chẳng tin tưởng chút gì vào các điều ấy, thì tuy vẫn gieo trồng Gốc Rễ công đức để hy vọng vãng sanh Cực Lạc dù thường đặt lòng tin gắn liền với những khái niệm công đức và tội lỗi - rốt cuộc những kẻ ấy sẽ tái sanh trong Cung Điện Thai Sen nơi biên địa cõi Cực Lạc.”
Hiển nhiên chỉ vì thế, mà tôi biết chắc rằng người ta thực hành một công phu chọn lọc như Niệm Phật mà lại đem kết hợp với một tư tưởng tạp loạn (đem tín tâm pha trộn với tự lực), thì sẽ không thể nào đạt đến Đại Hoan Lạc. Đây là lý do tại sao tổ sư Thiện Đạo nói:
 “Kẻ naò không phát khởi tư tưởng tri ân về sự đoái hoài của Phật đã từng ban phát cho chúng ta biết bao ân đức của sự Vãng Sanh, mà chỉ một mực chăm chú vào việc chất chứa những hành vi tu tập tự lực, đồng thời nổi lên những tư tưởng kiêu ngạo, hoặc mưu đồ kiếm chác danh vọng cùng lợi ích vật chất. Kẻ ấy chắc hẳn bị quay cuồng trong ngục tù bản ngã chật hẹp u mê, y sẽ không có được một người bạn thiết để đồng hành trên bước đường tu tập. Y lấy làm thích thú biết bao bởi vô số phương thức tu tập tự lực, y nào biết rằng chính y đã gây ra chướng ngại cho sự tinh tiến đích thực, nhờ đó mà người ta được tái sanh Tịnh-độ chỉ bởi năng lực của Phật mà thôi (Tha Lực).




(19)
NIỆM PHẬT VÀ CÁC THỜI KỲ CHÁNH PHÁP


Tôi tin tưởng rằng, giáo lý tu tập theo Con Đường Của Các Thánh Nhân là phương tiện hành trì chỉ dành riêng cho các bậc thượng căn vào thời kỳ đức Thích Ca Mâu Ni còn hóa đạo tại thế gian,  đó là giai đoạn của Chánh Pháp Chân Thật (Đúng Đắn) - chứ không thể nào ban cho chúng sanh vào các thời kỳ hánh Pháp Tương Tự hoặc Chánh Pháp Suy Tàn và Chánh Pháp Diệt Tận.
Thời gian đầu tiên đã qua rồi, giáo lý tu tập theo Con Đường Của Bậc Thánh Nhân thì dường như chẳng còn mấy thích ứng với các thời kỳ tiếp theo.
Trái lại, Niệm Phật tức là Đạo Phật Chân Chánh của Tịnh-độ được thực hành vào thời đức Thích Ca còn lưu trụ trên thế gian naỳ, giáo pháp lúc ấy là Chánh Pháp Đúng Đắn, nhưng đặc biệt vẫn còn được thực hành rộng rãi vào các thời đại Chánh Pháp Tương Tự, Chánh Pháp Suy Tàn hoặc Chánh Pháp Diệt Tận.                  
Niệm Phật cũng là sự dìu dắt tràn đầy xót thương mà chư Phật ban cho chúng ta, và là phương tiện hết sức phù hợp với đại đa số chúng sanh trong thời đại xấu ác sẵn đủ năm loại nhiễm ô…
Trong bộ Đại Trí Độ Luận, ngài Long Thọ đã trình bày giáo pháp về “Bốn Lãnh Vực Nương Tựa” (Tứ Y Pháp) như sau:
“Vào lúc sắp sửa bước vào Đại Niết Bàn, đức Phật dặn dò chư vị tỳ-kheo rằng: kể từ nay, các con phải:
Thứ nhất, nương tựa vào Chánh Pháp mà chớ nương tựa vào người thuyết giảng.
Thứ hai, các con hãy nương tựa vào ý nghĩa giáo pháp mà chớ căn cứ vào ngôn ngữ, văn tự.
Thứ ba, các con hãy nương tựa vào Trí Tuệ Chân Thật chứ đừng căn cứ vào cảm nhận của 6 thức.
Thứ tư, các con hãy nương tựa vào những bản kinh có ý nghiã rõ ràng chứ đừng nên căn cứ vào những bản kinh mang ý nghĩa khúc mắc, bí mật và mù mờ. 
Vì vậy cho nên, vào thời đại chánh pháp suy tàn như hiện nay, quý vị tăng sỹ cũng như cư sỹ đều phải thực hành Giáo Pháp được nhắc nhở trong “Bốn Lãnh Vực Nương Tựa” (Tứ Y Pháp).        
Thân Loan tôi căn cứ vào những mục tiêu đúng đắn và xác thực của chư Tổ sư cũng như các bộ luận giái của các thánh hiền thuở xưa, tôi sẽ chứng minh rằng: 
Thánh Đạo, hay Con Đường Tu Tập Của Các Bậc Thông Tuệ, chỉ là giáo lý nhất thời ở vào giai đoạn khởi đầu của đạo Phật - còn Con Đường Trở Về Tịnh-Độ bằng thực hành Niệm Phật, lại là giáo lý quyết định dứt điểm, phù hợp với tất cả các giai đoạn phát triển của đạo Phật, dù ở bất cứ không gian nào, địa phương nào. Tôi cũng quan tâm đến việc phản ứng nghiêm túc đối với những sự diễn dịch sai lầm và cũng muốn chống lại những giáo lý ngọai lai, hỗn tạp trong đạo Phật.
Để có thể phân biệt những thời kỳ khác nhau sau khi Phật Thích Ca niết-bàn, tôi sẽ xác định ranh giới của các thời đại ấy, đâu là thời kỳ Chánh Pháp Đúng Đắn, đâu là thời kỳ Chánh Pháp Tương Tự,  đâu là thời kỳ Chánh Pháp Suy Tàn., Ngài Đạo Xước nói: Để trình bày thời đại nào kinh điển tồn tại trên thế gian, và thơì đại nào kinh điển bị hủy diệt, tôi phải nói rằng: sau khi đức Thích Ca diệt độ, chánh pháp đúng đắn được duy trì trong khỏang 500 năm.
Thời kỳ chánh pháp tương tự kéo dài khoảng một ngàn năm tiếp theo đó. Giai đoạn suy tàn của chánh pháp (mạt pháp) kéo dài khoảng mười ngàn năm. Rồi thì số lượng chúng sanh tu tập theo Phật-pháp sẽ càng ngày càng giảm bớt và tất cả các loại kinh điển đều bị biến mất hoàn toàn. Khi ấy, đấng Thế Tôn Tòan Giác mới xót thương hết thảy chúng sanh bị thiêu đốt bởi khổ não ưu phiền, Ngài sử dụng tuệ nhãn để chọn một bản kinh có khả năng cứu độ tất cả, đó là kinh Vô Lượng Thọ, và Ngài quyết định cho phép bản kinh này lưu trụ trên thế gian khoảng hơn một trăm năm.
Ngài tiếp lời:
Trong bản kinh Vô Lượng Thọ Như Lai Hội,  đức Phật dạy rằng: ”Vào thời mạt pháp, mặc dầu có ức ức chúng sanh tu tập theo chánh pháp của Ta,  nhưng chẳng có một người nào chứng ngộ rốt ráo cả”. Quả thật, chúng ta đang ở vào thời kỳ mạt pháp: đó là thời đại mà cuộc sống bị nhiễm ô bởi năm thứ dơ bẩn (ngũ trược ác thế). Chúng ta không đủ khả năng dù nhỏ bé để có thể tu tập theo bất cứ giáo pháp chân chánh nào của đạo Phật, duy chỉ có Niệm Phật là công phu tu tập dễ dàng mà chúng ta có thể thực hiện nổi…“                   



(20)

Nhờ nương tựa vào kinh điển mà chúng ta có được sự phân biệt thế nào là giáo pháp tạm thời và thế nào là giáo pháp bất biến, xác định - tôi quyết tâm chống lại những thứ giáo lý ngoại lai, hỗn tạp đang hiện hữu trong đạo Phật, và tôi cũng cương quyết phản ứng mạnh mẽ đối với những diễn dịch sai lầm vẫn còn tồn tại rải rác quanh đây.
Về đề tài này, kinh Đại Bát Niết Bàn nói:
“Bất cứ người nào đã quy y Phật, thì hoàn toàn không đặt niềm tin vào bất cứ năng lực thần quyền khác… “
Kinh Đại Tập đưa vấn đề này ra trước các đức Như Lai và được dạy như sau:
”Là đệ tử của Như Lai, nhà ngươi đã học hỏi những giáo lý được kiết tập và muốn thực hiện  trong
đời sống… Nhà ngươi chỉ nên quy y Phật, quy y Pháp, quy y Thánh Hiền Tăng. Đồng thời không quy y ngoại đạo, tà giáo. Không sùng bái các loại chư Thiên. Không hiến mình thờ cúng các loại Ma, Quỷ, Thánh Thần. Không nên mê say bói tóan kiết hung, dâng sao giải hạn, tử vi, phong thủy, xem ngày giờ tốt xấu…

(Nói chung, người niệm Phật thì không giải quyết vấn đề tâm linh bằng bất cứ một phương thức thế gian nào, ngoài việc duy trì công phu sáu chữ: Nam. Mô. A. Di. Đà. Phật) ./.
         




 (21)   LỜI CUỐI CÙNG


Hạnh phúc thay!
Con đã gieo cấy tâm hồn con trên khoảnh đất mơn mởn tươi xanh của Bản Nguyện A Di Đà, và con đã khơi dòng tư tưởng cuồn cuộn chảy vào đại dương của Chánh Pháp siêu việt tư duy và mô tả.
Con nhận biết từ đáy sâu thăm thẳm lòng xót thương bất tận của đấng Toàn Giác và con vô cùng thích thú đón nhận những ân đức vĩ đại đến từ những giáo huấn của chư Sư, chư Tổ. Niềm vui trào dâng đến mức độ tột cùng, và trong lòng con, một mối rung cảm chân thành của sự tri ân đang lớn dần lên.
Chính vì những nguyên do kia, mà con đã thực hiện công cuộc trình bày Đạo Phật Chân Chánh và tập hợp các phần cốt tủy của những giáo lý liên quan đến Niệm Phật Tịnh-Độ.                 
          Bởi vì con đã thâm nhập tận cùng những tầng sâu hun hút của ân đức Niệm Phật, nên con không hề quan tâm đến những mũi dùi phê phán hoặc thái độ chế riễu của người đời. Mặt khác, nếu có một người nào gặp cơ hội tiếp xúc với những bản văn này, mà chấp nhận với niềm tin cậy, hoặc còn nghi ngờ chút ít,  hoặc miễn cưỡng lắng nghe, thì nhờ những nhân duyên hi hữu này, một ngaỳ kia tâm hồn y sẽ đơm hoa nẩy nụ khiến cho Lòng Tin Thanh Tịnh sẽ bừng sáng ở trong y do năng lực Bản Nguyện A Di Đà - và rồi, quả đức Vi Diệu sẽ hiển hiện ngay nơi tự thân người ấy  trong Cõi Miền Cực Lạc.
Ngài Đạo Xước viết trong “An Lạc Tập, phần I” như thế này: “Con xin tập hợp nơi đây những lời dạy chân thật của Phật và Thầy, Tổ - chỉ mong giúp đỡ mọi người đạt được ý nguyện vãng sanh Cực Lạc”
Ước vọng của con, cũng như chí hướng của các bậc tiền nhân, là trở thành người dẫn dắt những kẻ hậu sanh, và dĩ nhiên người thời nay cũng có thể rút tỉa được một vài lợi ích khi tiếp nhận những lời chỉ bày của những người đi trước. Mong sao, thời đại nào cũng có sự tiếp nối liên tục cho đến mãi mãi về sau. Và nhờ sự tiếp nối vô tận này, mà đại dương khổ não của Sanh Tử  sẽ phải cạn khô.
Chúng ta đang ở vào thời kỳ suy tàn của chánh pháp (mạt pháp), mong sao các bậc Tăng sỹ cũng như cư sỹ, hãy đem cả lòng tin mà trân trọng và ngưỡng mộ giáo lý Niệm Phật này. Để rồi, quyết liệt chối bỏ mọi thứ ô nhiễm của thế gian và xác nhận danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật mới là máu thịt và hơi thở của chính mình.
          Để kết thúc, xin trích dẫn một đoạn thơ từ bản kinh Hoa Nghiêm (le Soutra de l’Ornementation Fleurie) :
Kẻ kia rất mực chúng sanh
Thấy vị bồ-tát tu hành siêng năng
Dấy lên tâm niệm oán hờn
Hoặc là thù nghịch như từng nợ nhau
Người này rất mực thanh cao
Phát sanh tâm niệm yêu thương tràn trề
Trước sau Ngài vẫn từ bi
Chẳng hề phân biệt kẻ kia người này
Dang tay
bảo bọc cuộc đời
Như mưa
                rưới xuống cỏ cây chan hòa

                   Thân Loan