Blogroll

Showing posts with label Giáo hành tín chứng. Show all posts
Showing posts with label Giáo hành tín chứng. Show all posts

Saturday, July 2, 2016

Ngài Thân Loan và chân tông Tịnh Độ

NGÀI THÂN LOAN VÀ CHÂN TÔNG TỊNH ÐỘ (SHINRAN AND JODOSHINSHU)


Nguyên tác tiếng Anh của Tiến sĩ Hisao Inagaki (Ðạo Viên Cửu Hùng), phát biểu tại trường đại học Leiden - Hà Lan, ngày 7.4.1992
Hoa dịch: Tan Peng Yau (Trần Bỉnh Nghiêu, Singapore)
Việt dịch: Tuệ Liên

1.Vào những năm đầu Tây lịch, Phật giáo từ miền Ðông bắc Ấn Ðộ truyền vào Trung Quốc, từ đó Phật giáo lại truyền vào bán đảo Hàn Quốc và Nhật Bổn. Ở những quốc gia này, Phật giáo đại thừa được quảng đại quần chúng tin theo và thọ trì. Như các tông phái Tịnh độ khác, Chân tông Tịnh độ cũng thuộc đại thừa Phật giáo. Giáo lý căn bản của Chân tông Tịnh độ cùng tương đồng với các giáo phái đại thừa khác như Thiền tông, Mật tông Tây Tạng là những tông phái được phổ biến thạnh hành ở Tây phương.
“Chân tông Tịnh độ” có nghĩa là “tinh túy của giáo lý Tịnh độ”. Ðây vốn không phải là tên của một tông phái, vì nguyên ý của Ngài Shinran (Thân Loan) không phải muốn sáng lập ra một tông phái mới. Mục đích của Ngài chỉ là muốn chỉ bày cho chúng ta nội dung quan trọng chủ yếu của nền giáo lý Tịnh độ do 7 vị cao tăng Ấn Ðộ, Trung Quốc và Nhật Bổn truyền bá và phát triển. Bảy vị Cao Tăng là 7 vị Tổ của Tịnh độ tông Nhật Bổn: Tổ thứ nhất là Bồ tát Long Thọ (-250), Tổ thứ hai là Bồ tát Thế Thân (-400), Tổ thứ ba là Ðại sư Ðàm Loan (476-542), Tổ thứ tư là Ðại sư Ðạo Xước (562-645), Tổ thứ năm là Ðại sư Thiện Ðạo (613-681), Tổ thứ sáu là Hòa thượng Nguyên Tín (942-1017), Tổ thứ bảy là Thánh nhân Nguyên Không (Pháp Nhiên) (1133-1212)
Từ những kinh điển Tịnh độ và các luận trước của 7 vị cao tăng, Shinran hình thành một hệ thống giáo lý có thể giải cứu chúng sanh, đây là khởi duyên của Chân tông Tịnh độ. Tịnh độ tông sau khi được nhà học giả Thiền học nổi tiếng D.T. Suzuki gọi Chân tông Tịnh độ là Chân tông (Shin) thì ở Tây phương thường dùng tên gọi này để nhận thức Chân tông Tịnh độ. Mặc dù Suzuki là một nhà thiền học nổi tiếng, nhưng ông đã phiên dịch 4 chương đầu tác phẩm căn bản của Shinran “Giáo hành tín chứng” (Kyogyoshinsho) ra tiếng Anh, và viết bài liên quan đến Chân tông giới thiệu đến các nhân sĩ Tây phương. Từ đây chúng ta sẽ sử dụng danh từ tắt “Chân tông” này cho “Chân tông Tịnh độ”.

2.Giáo lý Phật giáo Tịnh độ thường lấy Ðức Phật A Di Ðà làm trung tâm, Ðức Phật A Di Ðà thường trụ ở cõi Tịnh độ Tây phương Cực lạc (còn gọi là “An Lạc Quốc”, “An Dưỡng Quốc”). A Di Ðà là âm dịch của Amita, Amita là tiếng cổ Ấn Ðộ (Phạn văn). A Di Ðà cũng là cách viết tắt của Amitabha (Vô lượng quang) và Amitayus (Vô lượng thọ). Vì thế nhân sĩ Tây phương rất quen thuộc với 2 danh từ tiếng Phạn Amitabha và Amitayus.

Ðức Phật A Di Ðà rất được tôn sùng tại Nhật Bổn. Người ta tôn sùng Ngài thậm chí còn hơn cả Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni. Là một vị Phật siêu việt thời gian không gian, Ðức Phật A Di Ðà cứu độ tất cả những ai có lòng tin chân thành xưng niệm danh hiệu của Ngài. Ðức Phật A Di Ðà dùng vô lượng hào quang nhiếp thọ và gia hộ những người có lòng tin chân thành đối với Ngài, và tiếp dẫn họ sanh về cõi Tịnh độ Cực lạc của Ngài. Hạnh nguyện cứu độ chúng sanh của Ngài được 2 vị thượng thủ Bồ tát là Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí Bồ tát phò trì. Tượng Ðức Phật A Di Ðà và 2 vị Bồ tát này (Tây phương Tam Thánh) vô cùng phổ biến tại Nhật Bổn và các nước Á Châu thạnh hành tư tưởng Tịnh độ.
Những kinh điển liên quan đến lịch sử của Ðức Phật A Di Ðà, công hạnh cứu độ chúng sanh và Tịnh độ gồm có 3 quyển (gọi tắt là Tịnh độ tam kinh). Nội dung của các bộ kinh này giải thích quá trình, phương pháp vãng sanh Tịnh độ và ở Tịnh độ tu hành chứng đắc Phật quả.

3.Trước khi giải thích nội dung của Tịnh độ tam kinh.
Đầu tiên chúng ta nên tìm hiểu một vài khái niệm và giáo lý căn bản của Phật giáo, đó là nhân quả và nghiệp lực. Thuyết nhân quả thông thường đều được Bà la môn giáo ở Ấn Ðộ chấp nhận, nhưng chỉ có kiến giải của Ðức Phật mới là viên mãn. Theo lý nhân quả, tất cả sanh mệnh từ quá khứ vô thủy đến nay đều do nhân quả và nghiệp lực sai sử, sự hiện hữu của sanh mệnh cũng sẽ từ hiện tại tương tục cho đến vị lai. Do đó sanh mệnh không vì chết mà mất hẳn hoặc đình chỉ, mà sẽ chuyển sang hình thức khác trong vòng luân hồi tương tục. Sự xấu tốt của kiếp sống vị lai đều do nghiệp thiện ác ở quá khứ và hiện tại quyết định. Nói cách khác, cuộc sống hiện tại của chúng ta là kết quả của nghiệp quá khứ, những gì mà hiện nay chúng ta tạo tác sẽ ảnh hưởng đến tương lai của chúng ta. Do đây mà thấy, Phật giáo không chấp nhận chủ trương có đấng chủ tể và vạn năng sáng thế. Nhân quả của Phật giáo vì thế cũng không phải túc mệnh luận (Túc mệnh luận như người ta thường nói “tất cả do trời định”, “thiên mệnh”...). Tất cả những việc làm của chúng ta bao gồm ngôn ngữ và tư tưởng sẽ là “chủ nhân ông” tạo nên tình huống hiện tại và vị lai của chúng ta.
Hai là luân hồi, tức sự kéo dài của sanh mệnh, là sự khổ đau. Tuy chúng ta có thể chuyển sanh lên thiên giới (thiên đường và Tịnh độ là 2 khái niệm hoàn toàn khác nhau, không nên lẫn lộn 2 từ này), nhưng cảnh giới này không phải là cảnh giới vĩnh hằng trường cửu. Một khi công đức thiện nghiệp hết, chúng ta sẽ đọa vào trong các đường ác mà nhận lấy khổ đau. Phật giáo chính là dạy chúng ta làm như thế nào để giải thoát luân hồi sanh tử. Cảnh giới giải thoát này chính là thành Phật đạo, cũng tức là Niết bàn mà chúng ta thường nhắc đến.
Ba, Phật giáo không chỉ dạy người làm việc thiện lành, mà còn dạy chúng ta ý thức được sự tác tâm mới vô cùng quan trọng. Bất luận chúng ta nỗ lực như thế nào đi nữa để làm việc thiện lành, nhưng nếu vì chấp trước danh lợi, vì mong muốn được người ta khen thưởng mà làm viện thiện, thì lợi ích đạt được vô cùng ít ỏi, không thể tích lũy công đức để giúp cho chúng ta chứng thành Phật quả. Việc làm thiện chân chánh vì thế phải vượt ra ngoài sự chấp trước tự ngã danh lợi, nhưng muốn hoàn toàn đạt được cảnh giới này, cần phải tĩnh tọa tham thiền tinh tấn mới được.
Bốn, duyên khởi và lý “không” là khái niệm quan trọng của Phật giáo đại thừa. Nói đơn giản, tất cả vạn vật có sanh mệnh (chúng sanh) đều có mối liên hệ vô cùng mật thiết, không thể đơn độc tồn tại (nương nhân duyên sở sanh). Do đó một cái “ngã” dù không bị thời gian không gian, điều kiện và những chúng sanh khác ảnh hưởng đến thì không thể tồn tại được. Vì thế hiểu rõ quan điểm ở trên, Bồ tát (là người tinh tấn cầu Phật đạo, phát tâm từ cứu độ chúng sanh) làm tất cả việc lành mà không chấp trước vào một vật nào cả.
Cuối cùng là cần phải nhận thức công đức có được do các thiện nghiệp phát xuất từ tâm đại từ bi có thể hiển hiện thành chư Phật và cõi Phật Tịnh độ của các Ngài. Tất cả công đức này chư Phật đều ban phát cho chúng sanh. Phàm là những người được công đức này đều có thể mau chóng đắc thành Phật đạo.

4.Tất cả chúng sanh đều có thể thành Phật. Ðại thừa Phật giáo tin tưởng chúng sanh đều có Phật tánh. Ai tin tưởng Phật tánh của chính mình, và làm cho Phật tánh nảy nở phát triển, đó là một vị Bồ tát. Sự bắt đầu của Bồ tát đạo là vị hành giả lập lời thệ nguyện, dõng mãnh mong cầu trí huệ vô thượng (Bồ đề) và làm cho tất cả chúng sanh trong cảnh khổ đau đều được giải thoát. Phật giáo đại thừa tin rằng trong vũ trụ này có vô số Bồ tát đang hành hoặc đã chứng đắc Bồ tát đạo.
Căn cứ “Kinh Phật thuyết vô lượng thọ” (gọi tắt là Ðại Kinh), một bộ kinh đồ sộ và vô cùng quan trọng trong Tịnh độ tam kinh, Ðức Phật A Di Ðà vốn là một vị quốc vương. Sau khi gặp Ðức Phật, vua có ấn tượng vô cùng sâu sắc và xuất gia hành Bồ tát đạo. Lúc đó pháp danh của Ngài là “Pháp Tạng”, cũng có nghĩa là “Bảo tạng của Phật pháp”. Ngài dõng mãnh tìm cầu Phật đạo và lập lời thệ nguyện cứu độ tất cả chúng sanh. Do Bảo Tạng yêu cầu, Ðức Phật Thế Tự Tại Vương hiển thị và giải thích 210 ức cảnh giới Tịnh độ. Sau khi quan sát các cõi Phật, bèn thiền định tư duy các đặc trưng kiến lập các cõi Tịnh độ này trong thời gian 5 kiếp (kiếp là đơn vị hình dung thời gian dài không thể đo lường được). Sau 5 kiếp, Ngài đã tìm ra cõi Tịnh độ mà mình muốn thành lập và con đường giải thoát khổ đau cho chúng sanh, vì thế Ngài bèn phát 48 lời nguyện.
“Ðại kinh” nói rằng Ngài Bảo Tạng đã dùng vô số sanh mạng thực hành Bồ tát đạo trong vô lượng kiếp. Chúng ta nên biết chỉ phát nguyện suông, không có nghĩa là nguyện vọng sẽ biến thành hiện thực. Ðể cho nguyện vọng thành tựu, người phát nguyện cần phải làm các việc thiện lành và tu chứng đắc trí huệ vô thượng. Khi trí huệ đạt đến đỉnh cao, công đức và lòng từ phát triển đến mức hoàn thiện hoàn mỹ, Ngài Bảo Tạng thành Phật, hiệu là A Di Ðà. Công đức vô thượng vô biên của Ngài là y theo lời nguyện trước đã phát thệ mà hiển thị thành thân Phật quang minh vô lượng và cõi Tịnh độ trang nghiêm. Trong 48 lời nguyện, lời nguyện 18 đối với Phật giáo đồ Tịnh độ vô cùng quan trọng, vì có thể khiến cho người có lòng tin chân thành xưng niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà được giải thoát. Bổn nguyện này là chiếc cầu kiến lập giữa chúng sanh và Ðức Phật A Di Ðà. Người có lòng tin xưng niệm danh hiệu Ðức Phật mà lãnh thọ công đức của Ðức Phật, có được công đức này, người này có thể vãng sanh Tịnh độ.
Chư Phật cùng với hạnh nguyện cảm hóa chúng sanh, không phải quan niệm và tư duy của phàm phu chúng ta có thể đo lường được. Bộ kinh thứ 2 trong Tịnh độ tam kinh là “Kinh Phật thuyết Quán vô lượng thọ” (gọi tắt là Quán Kinh). Bộ kinh này giới thiệu phương pháp dùng pháp nhãn của tự thân quán tưởng Ðức Phật A Di Ðà và cảnh giới Tịnh độ. Nói đơn giản, tất cả có 13 phép quán tưởng. Ðầu tiên, hành giả hướng về Tây, tập trung vào ánh mặt trời sắp lặn và ghi nhớ hình tượng này vào trong ý thức, bất luận mở mắt hay nhắm mắt không để cho hình tượng này tiêu mất. Sau khi cảnh giới này thành tựu, hành giả quán tưởng đến nước, đầu tiên quán tưởng khắp cõi Tây phương tràn ngập nước. Nước này đông lại và biến thành lưu ly. Do vì cảnh Tịnh độ do lưu ly tạo thành nên sau khi quán thành cảnh giới lưu ly, thì có thể tiếp theo quán tưởng các đặc trưng khác của Tịnh độ cùng với thân Phật A Di Ðà. “Quán Kinh” nói, phàm những người thành công quán tưởng A Di Ðà và cõi Tịnh độ Cực lạc, ác nghiệp sẽ được tiêu trừ và sau khi mạng chung nhất định sẽ được vãng sanh vào cõi Cực lạc.

5.Trong lịch sử Phật giáo Tịnh độ ở Ấn Ðộ, Trung Quốc và Nhật Bổn, niệm Phật là công hạnh quan trọng cầu vãng sanh Tịnh độ, chính là miệng niệm “Nam mô A Di Ðà Phật”. Câu này có nghĩa là “quy mạng A Di Ðà Phật” hoặc “kính lễ A Di Ðà Phật”. Quán kinh giới thiệu 13 phép quán tưởng xong bèn chia sự tu trì, thiện hạnh, công đức và ác nghiệp đã tạo của người phát nguyện cầu sanh Tịnh độ làm 9 phẩm. Ðối với những người hạ phẩm tạo các ác nghiệp, Ðức Phật Thích Ca dạy họ miệng niệm danh hiệu Phật có thể tiêu trừ ác nghiệp của tự thân. Theo lý nhân quả, những người này nhất định sẽ đọa vào địa ngục thọ khổ, nhưng nương nhờ công đức niệm Phật, các tội của họ được tiêu trừ và khiến cho họ được vãng sanh Tịnh độ.
Kinh ngắn nhất trong Tịnh độ tam kinh là “Phật thuyết A Di Ðà kinh” (gọi tắt là “Tiểu kinh “ hoặc “A Di Ðà kinh”), cũng là bộ kinh chuyên dạy chúng sanh niệm Phật. Tiểu kinh giải thích chỉ cần từ một đến 7 ngày nhất tâm xưng niệm danh hiệu Phật, thì chúng sanh có thể vãng sanh Tịnh độ. Nhưng điều quan trọng vẫn là lời nguyện thứ 18 của Ðức Phật, cũng chính là công hạnh do lòng tin niệm Phật khiến cho chúng sanh được vãng sanh Tịnh độ, ly khổ đắc lạc.
So sánh với pháp môn quán tưởng, pháp môn niệm Phật là phương pháp dễ hành trì nhất, không bị bất cứ người nào, hoặc thời gian, địa điểm hạn chế. Phương pháp niệm Phật tuy dễ hành, nhưng không có nghĩa là công đức và công hiệu niệm Phật sẽ nhỏ đi. Tất cả Tổ sư Tịnh độ xưa kia, từ Bồ tát Long Thọ ở Ấn Ðộ là người đầu tiên khởi xướng pháp môn niệm Phật, cho đến Ðại sư Thiện Ðạo ở Trung Quốc và Thượng nhân Pháp Nhiên Nhật Bổn đều dị khẩu đồng thanh nhấn mạnh phương pháp miệng niệm Phật này. Ngài Thiện Ðạo (613-681) đời Ðường - Trung Quốc là một trong những người tiên phong chỉnh lý và phát dương giáo lý Tịnh độ. Sau khi thành tựu pháp môn quán tưởng Ngài bèn trước tác bộ luận “Quán kinh tứ thiếp sớ” giải thích “Quán kinh”, cùng với các trước tác giải thích phương pháp tu trì và nguồn gốc của pháp môn quán tưởng. Tuy như thế, hệ thống tu trì của Ngài vẫn lấy phương pháp niệm Phật làm công hạnh tu trì chủ yếu. Các công hạnh khác, bao gồm phép quán tưởng Phật A Di Ðà, chỉ khởi tác dụng phụ giúp thêm. Sư phụ của Ngài Thiện Ðạo là Ngài Ðạo Xước (562-645) mỗi ngày niệm danh hiệu Phật 70 ngàn biến, Ngài Thiện Ðạo cũng tinh cần niệm danh hiệu Phật. Pháp môn niệm Phật của Ngài truyền bá khắp mọi nơi và sau đó truyền đến Nhật Bổn. Thượng nhân Honen (Pháp Nhiên 1133-1212) đã kế thừa pháp môn niệm Phật của Ngài Thiện Ðạo. Thượng nhân Honen thành lập Tịnh độ tông Nhật Bổn trên nền tảng giáo lý chuyên tâm xưng niệm danh hiệu Phật có thể vãng sanh Tịnh độ. Ðệ tử của Ngài ngoài những lúc theo Ngài niệm Phật, còn viết những tác phẩm xiển minh và làm sáng tỏ lời dạy của Ngài
Trước khi Ngài Honen thành lập Tịnh độ, pháp môn niệm Phật đã phổ biến lưu hành trong giới dân gian và quý tộc, đây này là công của Ðại sư Genshin (Nguyên Tín 942-1017) và các bậc Thánh khác của Tịnh độ tông như Thượng Nhân Koya (Không Dã 903-972). Ngài Genshin nổi tiếng bởi tác phẩm “Vãng sanh yếu tập” của Ngài. Trong tác phẩm này, Ngài diễn tả chi tiết cảnh giới khổ đau trong cõi ác và sự an vui ở cõi Tịnh độ Cực lạc, để khích lệ đại chúng nguyện sanh Tịnh độ. Ðồng thời Ngài còn thành lập Hội niệm Phật vào một ngày trong tháng cùng nhau niệm Phật tu hành. Ðương thời có một quý tộc tên là Fujiwara Michinaga (Ðằng Nguyên Ðạo Trưởng 966-1027), khi lâm chung tay ông nắm một sợi dây ngũ sắc mà đầu kia cột vào tay của Ðức Phật A Di Ðà. Theo “Quán kinh” và “Vãng sanh yếu tập”, phàm người lâm chung nếu có thể niệm Phật và tưởng nhớ Ðức Phật A Di Ðà thì sẽ được Ðức Phật và chư Thánh tiếp dẫn lên cõi Tây phương Tịnh độ. Sợi dây ngũ sắc được cho rằng có công năng được Ðức Phật thân lâm tiếp dẫn.

6.Khi chúng ta nhắc đến danh từ Phật giáo Tịnh độ, chúng ta không những chỉ nhắc đến Tịnh độ tông ở Nhật Bổn, mà ở Trung Quốc, Ðài Loan, Hàn Quốc, Việt Nam các nước Á Châu cùng với các khu Á kiều tụ tập ở Âu châu, Mỹ châu đều tồn tại các loại hình tông phái Tịnh độ. Các đạo trường và tự viện của các tông phái Tịnh độ này đều do Tăng sĩ hoặc Giảng sư ở địa phương đó trụ trì.
Ở Nhật Bổn, Tịnh độ tông và Chân tông Tịnh độ đã trở thành tông phái Phật giáo được quần chúng hoan nghênh nhất. Theo con số điều tra của chính phủ năm 1987, các tự viện của Phật giáo Tịnh độ tổng cộng có 30368 ngôi, tín đồ của Tịnh độ có 20446912 người. Con số này khoảng 1 phần 4 tổng số Phật giáo đồ Nhật Bổn. Thiền tông chỉ có 9481011 tín đồ. Chúng ta tuy không có cách nào biết được con số thực tế tín đồ và tự viện của các tông phái trên, nhưng từ những con số thống kê này chúng ta có thể biết được tư tưởng Tịnh độ ảnh hưởng sâu xa đối với Nhật Bổn.
Nếu bạn có cơ hội đến Tokyo (Ðông Kinh) - Nhật Bổn du lịch, trên con đường từ Tokyo đến Kyoto (Kinh Ðô) không nên bỏ qua Kamakura (Liêm Thương). Kamakura nổi tiếng là trung tâm chính trị hơn 140 năm của chính phủ Tướng quân xưa kia. Phong cảnh nổi tiếng nhất của vùng này là tượng Ðức Phật A Di Ðà ngồi, cao 15 mét, hai tay kiết ấn Di Ðà, được thành lập vào năm 1250, đôi mắt từ bi của Ngài đã nhìn suốt sự thay đổi biến thiên của thế gian. Ðối với các du khách từ các miền trên thế giới, Ngài dường như nói “Hoan nghênh đến Nhật Bổn là cõi Tịnh độ của Ðức Phật A Di Ðà”.
Khi bạn xuống xe từ trạm Kyoto và đi lên phía bắc một đoạn đường, bạn sẽ thấy một ngôi chùa Phật trang nghiêm. Ngôi chùa này là Tổ đình của phái Ðại Cốc, một trong 2 tông phái lớn của Chân tông Tịnh độ, người ta thường gọi ngôi chùa này là chùa Ðông Bổn Nguyện. Nếu bạn tiếp tục đi về phía tây khoảng 10 phút, bạn sẽ nhìn thấy một ngôi chùa lớn như chùa Ðông Bổn Nguyện, đây là chùa Tây Bổn Nguyện, theo số thống kê được điều tra năm 1990, các tự viện thuộc chùa Tây Bổn Nguyện gồm có 10369 ngôi, Tăng chúng giảng sư gồm có 27238 vị. Ngoài ra các miền trên toàn quốc có 9 Trường đại học và đại học ngắn hạn, bao gồm đại học Ryukoku, nơi tôi đang dạy học đều trực thuộc chùa Tây Bổn Nguyện. Các trường cao đẳng và trung đẳng thuộc chùa Tây Bổn Nguyện gồm có 35 trường. Ngoài ra chùa Tây Bổn Nguyện ở nước Mỹ có 97 ngôi chùa, Nam Mỹ có 59 ngôi và Gia Nã Ðại có 18 ngôi chùa, ở Âu châu có 3 ngôi và 1 số đạo trường niệm Phật.

7.Tổ sư của Chân tông Tịnh độ là Ngài Shinran, sanh năm 1173 tại Kyoto - Nhật Bổn, vì cha mẹ mất sớm, nên 9 tuổi xuất gia. Vào thời đại của Ngài xã hội động loạn không an, dân chúng không đường sinh sống. Lúc đó 2 bộ tộc Minamoto and Taira vì tranh chấp quyền lợi mà gây ra nội chiến, cuối cùng bộ tộc Taira thắng trận, và năm 1192 tại Kamakura, Minamoto Yoritomo xây dựng chính phủ tướng quân
Shinran sau đó đến núi Hiei (Tỷ Duệ) Thiên Thai tông tu học. Ngài ở nơi đây 20 năm chuyên cần tu học giáo lý Thiên Thai, nhưng cuối cùng phát hiện mình vẫn không có cách nào khai ngộ và tiêu trừ phiền não trong tâm. Vì thế Ngài bèn xuống núi đến Kyoto đi tìm con đường giải thoát thích hợp cho mình. Lúc đó Thượng nhân Honen lớn hơn Shinran 40 tuổi đang tuyên dương pháp môn niệm Phật cho các tầng lớp nam nữ trong xã hội. Shinran bèn xin làm môn hạ của Ngài và phát hiện pháp môn niệm Phật có thể khiến cho chúng sanh được giải thoát.
Môn phái cũ của Ngài vì lòng tật đố nên dâng sớ lên triều đình yêu cầu cấm chỉ giáo pháp niệm Phật của Honen, Honen cùng với đại đệ tử bị bức hại. Shinran năm 1207 cũng vì đó mà bị đày lên miền bắc Nhật Bổn, và sau đó kết hôn lập gia đình tại đây. Sau khi được xá tội, Ngài đi đến tỉnh Hitachi ở phía bắc Nhật Bổn, một mặt tuyên dương pháp môn niệm Phật cho dân chúng tại địa phương này, một mặt viết bộ luận đồ sộ của Chân tông “Giáo hành tín chứng”. 60 tuổi Shinran trở lại Kyoto, cho đến năm 90 tuổi qua đời, trong thời gian này tất cả tinh lực của Shinran đều dồn vào trong các trước tác của Chân tông.
Shinran sống cuộc đời như những người bình thường khác. Ngài có vợ là Eshin Ni (Huệ Tín Ni, là một thiếu nữ thuộc dòng dõi quý tộc tại Nhật Bổn) và sanh hạ 1 nam 5 nữ (1 thuyết khác 2 nam 5 nữ). Theo giới luật Phật giáo, Tăng sĩ xuất gia không được kết hôn sanh con. Do đó việc tu học Phật đạo và lập gia đình được xem như trái ngược nhau. Khi Shinran bị đày, tăng tịch của Ngài đã bị hủy bỏ mà còn bị ghép vào tội đằng tỉnh thiện tín (Theo pháp luật đương thời, tăng sĩ không bị pháp luật quản chế, vì thế nếu muốn cáo tội một tăng sĩ thì đầu tiên phải hủy bỏ tăng tịch của người đó, và ghép vào 1 tội danh.). Với tình thế như vậy, Ngài ý thức rằng mình không phải là tăng cũng không phải là tục. Vì thế Ngài kết hôn với 1 cô gái thích hợp là một việc rất tự nhiên. Với hành động kết hôn này, Shinran muốn chứng tỏ nam nữ bình thường cũng là đối tượng cứu độ của Ðức Phật A Di Ðà.


8.Sau thời Honen, trong các tông phái Tịnh độ hưng khởi ở Nhật Bổn, tông phái phát triển lớn mạnh nhất là Chân tông Tịnh độ, về mặt giáo nghĩa, Chân tông không câu thúc vào hình thức khiến nó được đại chúng tiếp thu. Shinran vốn không có ý định sáng lập tông phái mới, trong tác phẩm “Giáo hành tín chứng” cùng với các tác phẩm khác của mình, Ngài thuyết minh rằng mình chỉ muốn y theo lời dạy của Ðức Phật Thích Ca và 7 vị cao tăng, xiển dương phần tinh tủy chân chánh quan trọng của các Ngài mà thôi. Kiến giải của Shinran đối với giáo lý Tịnh độ dường như căn cứ theo phán đoán của Ngài mà hình thành. Nhưng những kiến thức thâu lượm được từ kinh nghiệm cuộc sống và cảm xúc cá nhân của Ngài, trên thực tế đã làm sáng tỏ nền giáo lý mà các bậc cao tăng Nhật Bổn xưa kia đã truyền trao.

Trong việc phát triển bất cứ một nền tôn giáo hoặc triết học nào, việc canh tân lại giáo lý là quá trình không thể thiếu được. Ðể cho giáo lý và sự tu trì được bảo đảm tính chất sống, giáo lý và sự tu trì đó cần phải do sự thể nghiệm của tự thân mà đưa ra quan điểm mới để nghiên cứu và xiển dương lại. Việc nghiên cứu lại giáo lý như trên mặt đất khai thác một nguồn năng lượng mới. “Pháp” do Ðức Phật tìm ra cách đây hơn 2500 năm về trước như mặt đất. Ban đầu Ngài truyền trao cho chúng sanh phương pháp nguyên thủy trong việc khai thác và chế luyện để lấy được năng lượng. Phạn ngữ “dharma”, tôi phiên dịch là “pháp”, từ này ở Ấn Ðộ cổ xưa đã sử dụng rất phổ biến. Chân lý mà Ðức Phật tìm ra cùng với phương pháp tu học để đạt được chân lý cũng sử dụng chữ “pháp” này, nhưng Ngài sử dụng chữ “pháp” khác với Bà la môn giáo Ấn Ðộ. Ngài đã sử dụng chữ pháp với hàm nghĩa và quan điểm mới, hàm nghĩa này vài thế kỷ sau đó, sau khi đại thừa Phật giáo tại Ấn Ðộ hưng khởi mới hoàn toàn được hiển lộ. Theo quan điểm của đại thừa, Phật pháp do lịch sử, địa lý và xã hội thay đổi mà dùng trí huệ tham thấu và quan sát để đổi mới theo.
Ở đây tôi muốn nhấn mạnh, quá trình nghiên cứu và đưa ra kiến giải mới, tĩnh tọa tham thiền là một yếu tố vô cùng quan trọng. Chỉ nương vào lý luận trống rỗng của phàm phu có thể nói là hư huyễn không thật tế. Từ khi lịch sử Phật giáo bắt đầu, tư tưởng siêu thế giới quan của Phật giáo… đều đạt được từ trong thiền định, điều này Phật giáo Tịnh độ tương đồng với Phật giáo đại thừa. Theo “Quán kinh”, nếu chúng ta có thể thành công y theo phương pháp trong kinh để tu trì, chúng ta có thể quán tưởng A Di Ðà Phật và cõi Cực lạc thế giới. Mỗi khi mê mờ phiền não, chúng ta có thể dùng phương pháp tĩnh tọa tham thiền để đối trị. Nhưng trên thực tế tĩnh tọa tham thiền không phải mỗi lần đều dễ dàng có hiệu quả. Hôm nay đã cách Phật quá xa, các đạo sư tu thiền càng ngày càng ít. Dù cho bạn tìm được một vị thầy, muốn lâu dài kiên trì tu tập theo pháp tu của vị này cũng rấtø khó khăn. Phương thức tĩnh tọa của pháp môn quán tưởng Tịnh độ dễ dàng tu tập hơn so với phương pháp thiền định tu trì của thiền tông. Ðó là vì hành giả có đối tượng chú tâm vào (Ðức Phật và Tịnh độ) cùng với sự gia trì của thần lực Ðức Phật A Di Ðà.
Honen tu trì giáo pháp Thiên Thai tông nhiều năm ở núi Hiei mà bản thân vẫn không chứng ngộ. Shinran cũng giống như thế, cũng ở núi này tu tập 20 năm mà cuối cùng phát hiện mình không có cách nào thành tựu. Sau khi Honen đọc bộ luận của Ngài Thiện Ðạo mà hoát nhiên đại ngộ, vì thế Ngài bỏ đi các phương pháp tu trì khác, nhất tâm tín nguyện niệm Phật. Ðiều quan trọng của việc Honen chuyển lòng tin niệm Phật là ở sự thực Ngài phát hiện tự thân không thể làm cho mình giải thoát. Honen phát hiện ở sau danh hiệu Phật là thần lực vô lượng của Ðức Phật A Di Ðà. Do phát hiện này, Honen đã đứng ở một góc độ mới xiển dương giải thích Phật pháp và đặt pháp môn niệm Phật trên các pháp môn khác.

9.Các nhà học giả phương Tây thường so sánh Shinran với Martin Luther (Mã Ðinh Lộ Ðức 1483-1546), vì những sự đổi mới Phật giáo của Shinran có nhiều điểm tương đồng với kháng nghị của Martin Luther đối với Thiên chúa giáo. Nhưng Shinran không công khai kháng nghị với các vị lãnh đạo Phật giáo và cũng không có ý định sáng lập tông phái mới. Ðiều mà Shinran quan tâm cũng giống như Honen và 7 vị cao tăng là nương vào Tịnh độ để được giải thoát. Ðiều này xem ra dường như có chút tư tưởng riêng tư yếm thế, nhưng tâm hướng về Tịnh độ và bản thân của Ngài hoàn toàn không có riêng tư và cũng không bi quan yếm thế. Vì sau khi Shinran lãnh thọ được sức từ bi của Ðức Phật A Di Ðà, Ngài phát hiện bản thân và tất cả chúng sanh kỳ thực như nước hòa với sữa không thể phân cách. Vì thế, sau khi Shinran siêu thế gian, tức vãng sanh Tây phương, sẽ y theo bổn nguyện của mình trở về thế gian này cứu độ chúng sanh.
Shinran đã hiểu rõ sức cứu độ của Ðức Phật cùng với sự tư duy sâu sắc của mình đã thay đổi tư tưởng Phật giáo và những lý giải thông thường. Trong bộ sách quan trọng của Chân tông “Thán dị sao”, Shinran có câu danh ngôn như sau :
“Ngay cả người thiện cũng đều được vãng sanh Tịnh độ, huống chi kẻ ác. Ðối với việc này, người đời thường nói : ngay cả kẻ ác còn được vãng sanh Tịnh độ, huống chi người thiện. Câu này dường như có lý, nhưng trên thực tế đã sai ngược với bổn nguyện giáo lý tha lực vãng sanh”. (Chương thứ 3)
Y theo lời dạy của Ðức Phật, nếu chúng ta có thể thông qua tham thiền tu tập trí huệ và rộng tu các hạnh lành, thì đường tu tập của chúng ta càng thăng hoa. Nếu chúng ta không có cách nào làm các việc lành, chúng ta nhất định sẽ đọa vào trong các đường ác nhận chịu khổ đau để tiêu mòn ác nghiệp đã làm. Tuy Shinran có năng lực làm việc thiện, nhưng khi Ngài dùng huệ nhãn phát giác ác nghiệp lớn nhất trong nội tâm, và ý thức tất cả sở hành của mình không thể tách rời ác nghiệp thao túng. Ðây có nghĩa là Shinran ý thức bản thân mình không có mảy may thiện nghiệp và phước đức, càng không thể nói đến việc khiến cho bản thân mình giải thoát.
Một câu danh ngôn khác của Shinran trong “Thán Dị sao”:
“Tôi đã không biết tu bất cứ công hạnh gì, và như thế tương lai chắc chắn sẽ đọa địa ngục”.
Shinran không phải lâm vào cảnh sơn cùng thủy tận, cũng không phải cảm thấy mình bị sức cứu độ của Ðức Phật gạt bỏ bên ngoài. Sự chứng ngộ của Ngài đối với sự vô lực tự cứu của bản thân, chính là chứng minh bản thân mình đã được Ðức Phật A Di Ðà nhiếp thọ và cứu độ. Vì thế thông qua lòng tin chân thành đối với Ðức Phật, Shinran có thể lãnh thọ công đức, trí huệ và sức mạnh vô lượng của Ðức Phật, và hoàn toàn đặt căn bản của phàm phu tự ngã chấp trước vào trong lòng của Ðức Phật A Di Ðà.
Kiến giải đối với Phật giáo của Shinran phát xuất từ kinh nghiệm tín thọ và lãnh thọ Phật lực (tha lực). Ngài chia Phật giáo thành hai hệ thống, là tự lực giáo và tha lực giáo. Chân tông thì hoàn toàn là tha lực giáo, các tông phái Phật giáo khác thuộc về tự lực giáo. Shinran thậm chí không khuyến khích niệm Phật. Ðối với Thiện Ðạo và Honen, tín đồ Tịnh độ toàn tâm toàn lực xưng niệm danh hiệu Phật, còn đối với Shinran, việc cần thiết là chỉ chân thành lãnh thọ sức cứu độ vô điều kiện của Ðức Phật dành cho chúng sanh.

10.Chân tông từ xưa đến nay xuất hiện nhiều nhân vật được gọi là “người Tuyệt vời”. Những người tuyệt vời này là những người nam nữ bình thường, phần đông tuy không biết chữ nhiều nhưng sâu sắc hiểu rõ tha lực giáo.
Họ hoàn toàn không phải chỉ là những người niệm Phật đơn giản kiền thành. Những người này đã phát hiện tha lực và bản thân mình cùng với Ðức Phật hòa hợp thành một thể, hoàn toàn lãnh thọ lòng từ bi của Ðức Phật đối với chúng sanh. Tuy những người tuyệt vời này hiểu rõ bản thân không thể do tự lực giải thoát, nhưng họ lại thường ôm lòng tri ân vô hạn đối với ân đức sâu dày của Ðức Phật, và cuộc sống hàng ngày của họ tràn ngập pháp hỷ mang tánh tự phát và tình thương vô ngã đối với thế gian.
Asahara Saichi (Thiển Nguyên Tài Thị 1851 - 1933) khi còn thiếu niên đã hướng về Phật giáo. Sau 5 hay 6 năm, ông ta đã nghe rất nhiều buổi thuyết giảng về Phật pháp, nhưng sau khi suy nghĩ sâu sắc về khả năng giải thoát của bản thân, ông quyết định từ bỏ Phật giáo. 10 năm sau, sự khát vọng của ông đối với Phật giáo lại lần nữa xuất hiện, lúc đó ông đang làm thợ mộc trong ngành đóng thuyền. Saichi sau những giờ làm việc rảnh rỗi, không bao giờ bỏ qua bất cứ cơ hội nghe thuyết pháp. Ðể hoàn toàn hiểu rõ tha lực giáo, ông đã nỗ lực tìm kiếm và đến năm 50 tuổi, lòng tin đã thức tỉnh trong ông. Ông đã đổi nghề làm người thợ giày.
Sự hoan hỷ của Saichi đối với Ðức Phật lúc nào cũng từ trong tâm tuôn chảy ra. Ông đã dùng thi ca để biểu đạt pháp hỷ của mình. Saichi tuy không biết tiếng Hoa, nhưng ông dùng tiếng Nhật viết những bài thơ trên những miếng gỗ bỏ và ban đêm viết vào vở. Trong rất nhiều bài thơ của ông, dưới đây dẫn chứng vài bài để cho chúng ta hiểu rõ cảm xúc của ông đối với lòng tin.

Nam mô A Di Ðà Phật và Nam mô A Di Ðà Phật,
Là một chứ không phải là hai.
Nam mô A Di Ðà Phật là chính ta,
Và A Di Ðà Phật là cha mẹ tôi.
Ðó chính là nhất thể hóa mà Ðức Phật A Di Ðà thể hiện,
Ðối với sự đãi ngộ này, tôi vô cùng hạnh phúc,
Nam mô A Di Ðà Phật.
A ! Saichi, Tịnh độ Cực lạc của bạn ở đâu?
Tịnh độ của tôi chính là ở đây.


Thanh âm của bạn chính là Nam mô A Di Ðà Phật,
Tôi vô cùng cảm kích,
Tôi, Saichi đã được danh hiệu của Ngài cứu độ
Bạn và tôi là một thể với Nam mô A Di Ðà Phật

Danh hiệu Phật trong miệng tôi lúc nào cũng có thể tìm được,
Ðây quả thật là một vị Phật tuyệt vời
Ðây là cha mẹ tôi A Di Ðà kêu gọi tôi
Tôi, Saichi đã được trói buộc vào trong đó.


Lòng tin này thật là lòng tin kỳ diệu
Phật đã nghe được âm thanh của Phật
Ở đây không có chỗ cho Saichi tôi nhúng tay vào
Tôi vô vàn cảm kích ân huệ Ðức Phật đối với tôi
Nam mô A Di Ðà Phật, Nam mô A Di Ðà Phật.

Ðối với Saichi và những người có lòng tin chân thành, niệm Phật và lòng tin đã hòa nhập thành một thể. Niệm Phật không phải nỗ lực tu trì, mà là pháp hỷ tự nhiên tuôn trào từ lòng tin chân thành. Vì thế, Nam mô A Di Ðà Phật có nghĩa là cảnh giới Ðức Phật A Di Ðà và tín giả hòa nhập thành một thể, vì “Nam mô” là lòng tin của tín đồ, mà “A Di Ðà Phật” là sức cứu độ tuyệt đối vô ngại của Ðức Phật.
Ashikaga Genza (Nguyên Tả 1842-1930) là một vị tuyệt vời khác. Lòng từ bi vô lượng của Ðức Phật cũng là từ trong tâm ông hiển thị tình thương bao la không một chút riêng tư. Một ngày kia, ông ta nhìn thấy các cây hồng trong vườn buộc đầy các cành gai. Ông hỏi:
- Ai làm gì đây?
Con ông trả lời:
- Con thấy mấy đứa con nít thường hái trộm hồng nên làm như thế để ngăn chặn nó.
Genza nói:
- Nếu có người vì đó mà bị thương thì làm sao đây?
Ông bèn dẹp đi các nhánh cây gai, và để một cây thang gần cây hồng. Con ông bèn hỏi:
- Làm như thế, không phải để cho người ta dễ trộm hồng của mình sao?
Genza trả lời:
- Ðể cho họ lấy đi những trái hồng mà họ muốn ăn, dù sao chúng ta cũng còn đủ hồng để ăn mà.
Một lần khác có một chàng thanh niên vào trong vườn của ông lấy một ít đậu cho ngựa ăn. Genza thấy vậy bèn kêu rằng:
- Chàng thanh niên kia! Ðậu ở đó không ngon, hãy đi vào trong sẽ tìm được đậu ngon cho ngựa!
Nghe lời này, cậu thanh niên lập tức trèo lên ngựa chạy mất.
Shoma (Trang Tùng 1799-1871) là một người dân nghèo không biết chữ. Tuy kiếm sống bằng nghề đan dép, bện thừng, làm thuê làm mướn, nhưng ông có kiến giải sâu sắc đối với lòng từ bi của Ðức Phật A Di Ðà. Có người hỏi ông:
- Ðặt lòng tin tuyệt đối vào Ðức Phật, có ích lợi gì?
Nghe câu hỏi này Shoma bèn thảnh thơi nằm trước bàn Phật thờ trong nhà.
Khi ông cùng với người bạn đi đến chùa, ông nằm nghiêng trong chánh điện. Người bạn trách ông:
- Bạn quá vô lễ, trang nghiêm lên một chút!
Shoma trả lời:
- Ðây là nhà của cha mẹ tôi, không cần phải khách sáo, chẳng lẽ bạn là chàng rể sao?
Lần khác ông cùng với bạn bè ngồi thuyền đi Kyoto lễ bái chùa Bổn Nguyện. Trên đường trở về, thuyền gặp phải sóng to gió lớn. Lúc đó tất cả hành khách đều sợ xanh mặt, chỉ có một mình Shoma vẫn nằm ngủ ngon lành như không có chuyện gì xảy ra. Lúc bạn kêu dậy, ông hỏi:
- Chúng ta vẫn chưa đến Tịnh độ sao?
Người tuyệt vời như thế, đã cho thấy những tín đồ Chân tông đạt được lòng tin chân thành tuyệt đối vào tha lực thì cũng không khác gì những người tu thiền ngộ đạo. Tất cả các việc làm của họ không những không bị bất cứ thứ gì ràng buộc, mà đồng thời còn sung mãn tình thương đối với chúng sanh và sự giác ngộ triệt để đối với vạn sự vạn vật. Những người này thậm chí sẽ siêu việt thiện và ác, thế gian và Tịnh độ. Người tuyệt vời đối với mọi người chung quanh không cống cao cũng không ngạo mạn, ngược lại sẽ dùng tâm thông cảm hoan hỷ để giúp đỡ mọi người cùng đi trên con đường Tịnh độ như mình.

11.Từ những ví dụ ở trên, Chân tông bao gồm nhiều tầng lớp người thế gian và xuất thế gian. Tóm lại, trước bất cứ việc gì, tín đồ Chân tông nương theo sức bổn nguyện của Ðức Phật mà được giải thoát. Từ “giải thoát” theo Chân tông có 3 tầng bậc. Thứ nhất, những người phàm phu như chúng ta có thể cùng với Ðức Phật A Di Ðà là bậc đã siêu vượt thế gian dung hợp thành một thể, khiến cho tự thân thoát ly lục đạo luân hồi, vì chúng ta lãnh thọ lòng tin từ nơi Ðức Phật, cho nên chúng ta luôn luôn tưởng niệm đến ân sâu vô lượng của Ðức Phật đối với chúng ta. Thứ hai, sau khi chúng ta qua đời, nhất định sẽ vĩnh viễn giải thoát cõi ta bà, lục đạo này, và vãng sanh cõi Tây phương Cực lạc. Vãng sanh Tịnh độ, trên cơ bản không khác gì Niết bàn thành Phật đạo. Tịnh độ là đại bảo tàng công đức vô lượng, vì thế người được sanh vào cõi Tịnh độ không những thọ nhận pháp hỷ vô tận, mà còn có thể dùng thân Bồ tát rộng độ tất cả chúng sanh, cuối cùng, chúng ta sẽ chứng đắc Phật đạo Vô thượng.
Ba tầng bậc này có thể phân chia theo thời gian từ quá khứ đến vị lai. Nhưng quan trọng nhất là cần phải hiểu rõ việc thành Phật không phải vị lai hoặc quá khứ, mà là chứng nghiệm chân lý ngay trong “hiện tại”. Saichi trong một bài thơ viết rằng:

Ôi ! Saichi, ai là Phật?
Ngài không phải là ai khác mà chính là tôi,
Ai là người sáng lập ra Chân tông Tịnh độ?
Ngài không phải là ai khác mà chính là tôi.
Gì là kinh điển và luận trước?
Ðó cũng không phải là ai khác mà chính là tôi.

Ðối với Shinran, lòng tin không những là “món quà miễn phí” của Ðức Phật A Di Ðà ban cho mọi người, cũng chính là tự thân của Ðức Phật A Di Ðà. Shinran trong một bài tán viết rằng:
Người hoan hỷ tín tâm vô ngại, là Phật pháp,
Phật pháp cũng là đức Như Lai,
Ðại tín tâm tức là Phật tánh,
Phật tánh tức là Như Lai. (Bài tán 94)
Ðây có nghĩa là lòng tin bao gồm tất cả. Sau khi chúng ta lãnh thọ lòng tin, việc chúng ta thành Phật đã được khẳng định. Ðây không chỉ là quan điểm mới của giáo lý Tịnh độ mà Shinran viết trên giấy tờ mà thôi, thông qua lòng tin, Shinran và Ðức Phật A Di Ðà đã dung hợp thành một thể. Các giáo đồ Chân tông khác cũng giống như Shinran vậy. Nên nói, lòng tin là tâm hoan hỷ vui mừng, vì lòng tin chính là hoan hỷ tiếp nhận, lãnh thọ sức cứu độ của Ðức Phật A Di Ðà. Ðức Phật A Di Ðà dùng hình thức “Nam mô A Di Ðà Phật” để gần gũi thân cận chúng ta. Một khi chúng ta lãnh thọ 6 chữ danh hiệu này, 6 chữ sẽ biến thành lòng tin. Nói cách khác, 6 chữ Thánh hiệu là tất cả công đức của Ðức Phật A Di Ðà , lòng tin cũng chính là Ðức Phật A Di Ðà.


Thursday, April 10, 2014

GIÁO HÀNH TÍN CHỨNG - THÂN LOAN thánh nhân (Phần 3)




(15)
Qua các lời dạy chân chánh của Đấng Tòan Giác và của các Luận sư, Tổ sư trong pháp môn chúng ta,  tôi thấy rõ rằng, tất cả đều minh chứng Cõi Nước Trong Sạch Thanh Tịnh như là Cõi Chân Thật của Cực Lạc (Cực Lạc Chân Độ).
Những chúng sanh tràn đầy ảo tưởng và nhơ bẩn  thì không thể nào thấy thế giới này đồng nhất với Bản Chất của Phật (Phật Tánh), bởi vì tâm thức của họ bị che lấp bởi tham dục. Vì vậy, kinh Đại Bát Niết Bàn đã ghi:
“Như Lai khẳng định rằng, ngay cả chư Bồ-tát ở địa vị Thập-trụ cũng chỉ thấy một phần rất nhỏ Phật-tánh (Thể Tánh của Phật).
Ngược lại, tôi biết rằng khi đặt chân lên Cõi Miền Thanh Tịnh của Phật, nhất thiết tôi phải được khai thị về Phật-Tánh, và việc ấy tùy thuộc vào sự cải biến tâm linh được điều động bởi năng lực Bản Nguyện A Di Đà.


 (16)

Kinh Đại Bát Niết Bàn còn ghi rằng:
“Trong một tương lai về sau, các chúng sanh sẽ có một thân thể trong sạch, được trang nghiêm rực rỡ bằng vô số công đức, vì họ đạt được sự thấy biết về Phật Tánh.”
Tại sao lại có những  phần thưởng vi diệu  như vậy? Bởi vì, những lời nguyện lớn rộng như đại dương của Đấng Toàn Giác đã tạo ra những kết quả và những phước báo vi diệu được hiện hữu nơi cõi nước kia. Do đó, mới gọi cõi nước ấy là “Cõi Cực Lạc”.
Giữa những lời thệ nguyện bát ngát thẳm sâu như đại hải, có những hệ quả chân thật và những hệ quả tạm thời. Ây là lý do tại sao  khi nói về thể tánh của Cõi Phật, người ta phân định thế nào là thể tánh chân thật, thế nào là thể tánh tạm thời.
          Do vì nguồn căn thực sự của “Bản Nguyện tuyển chọn đặc biệt” đã được minh chứng bởi Cõi Nước Chân Thật của Phật, và cũng để nêu rõ Đức Phật Chân Thật mà kinh Vô Lượng Thọ đã phải nói về “Đức Phật của ánh sáng không giới hạn, vô lượng vô biên” và về “Đức Phật của ánh sáng không bị ngăn ngại”… v…v…
Bản kinh Đại A Di Đà nói:
“Ở giữa hết thảy chư Phật, thì A Di Đà là vị chúa tể!  Ở giữa tất cả các loại ánh sáng, A Di Đà là ánh sáng tối thắng, tối tôn, tối diệu…
Ngài Thiên Thân, tác giả bộ Vãng Sanh Luận đã nói: “Con xin trở về nương tựa nơi Đấng Toàn Giác mà ánh sáng của Ngài chiếu rọi khắp mười phương, không bao giờ bị ngăn ngại...”
Về thể tánh của Cõi Chân Thật, thì bản kinh Vô Lượng Thọ ghi rằng:
“Đó là Cõi Miền của ánh sáng không thể đo lường được, vượt ra ngoài mọi khái niệm của chúng sanh…”
Bản kinh “Vô Lượng Thọ Như Lai Hội” do ngài Bồ-đề Lưu-chi dịch (năm 706), đã chép:
“Cõi Cực Lạc chính là cõi Viên Giác, cõi Chánh Giác, cõi Toàn Giác, Trí Tuệ Viên Mãn”.
Vãng Sanh Luận cũng còn nói:
“Rốt cuộc, cõi Cực Lạc có thể tánh tương tự như vũ trụ không gian: rộng lớn, bao la, dàn trải vô giới hạn, không có bờ mé… Vì đó là cõi của Tâm, tức Chân Tâm (Tâm Chân Thật), cõi của Giác Ngộ Tâm Linh  mà bất cứ khái niệm nào của lý trí nhị nguyên cũng không thể vươn tới được.              
Vắn tắt, có thể nói: “Cõi Cực Lạc chính là cõi của Nam mô A Di Đà Phật, cảnh giới thọ dụng của Danh Hiệu…”

 

(16)

 

Khi tôi trầm tư sâu sắc về Đức Phật và Cõi Nước Chuyển Hóa, tôi mới thấu triệt rằng, đó là đức Phật được diễn tả qua bản kinh Quán Vô Lượng Thọ, trong pháp thiền-quán thứ chín về Chân Thân của Phật.

Cõi Tịnh-độ được quán tưởng theo lời dạy của kinh Quán Vô Lượng Thọ, chính là Cõi Nước Chuyển Hóa mà thôi.  Cõi nước ấy cũng tương tự như Thế Giới Đãi Nọa (thế giới uể oải lười biếng) được nhắc đến qua bản kinh “Bồ-tát Xử Thai Chuyển Thế Kinh” và các văn bản khác: Cõi Nước Chuyển Hóa hoàn toàn tương ứng với Cung Điện Thai Sen hoặc Lâu Đài Nghi Ngờ thường tọa lạc tại Giải Mạn Quốc được trích dẫn từ bản kinh Sức Sống Không Cùng Tận (Vô Lượng Thọ kinh).                      
Thật ra, trong thế giới dơ bẩn này, đa số chúng sanh dẫu có ý thức xấu ác và bất tịnh, vẫn có thể khéo léo thoát khỏi những đường lối lầm lẫn của chín mươi lăm học phái tà kiến, để bước thẳng vào giáo lý đạo Phật, hoặc là giáo lý đầy đủ hoặc là giáo lý khiếm khuyết đôi ba phần - do những cơ duyên tạm thời hoặc do những quyết định dứt khoát.        
Bởi vì, gặp được Đạo Phật Chân Chánh quả là khó khăn biết bao: chúng ta cứ phóng tầm mắt  nhìn quanh, có mấy ai hội đủ nhân duyên hi hữu để vươn tới Đạo Phật Chân Chánh? Trong khi phần đông chúng sanh đều ngoan ngoãn cúi đầu vâng theo những thứ giáo lý tạp nhạp được diễn dịch sai lầm (20) và hầu hết mọi người đều lẩn quẩn miệt mài với những công phu chưa chín tới, những lối thực hành huê dạng, màu mè hình thức như mê đắm công quả, tom góp phước báo, lăng xăng hành thiện, cúng dường bố thí ...v...v...
Phần đông chúng sanh đều ôm ấp những mục tiêu tệ hại như vậy, chỉ vì họ say mê dồn chứa phước báu hữu lậu và tích lũy công hạnh, nên họ muốn đức  Thích Ca Mâu Ni một mực cứ thuyết giảng về sự bòn mót, kiếm chác công đức mà thôi.
Điều này thật dễ hiểu: khi chưa tu tập, người ta có khuynh hướng tom góp tài sản, cất giấu tiền bạc càng ngày phải càng nhiều hơn - khi bước vào ngõ tu hành, người ta vẫn đèo queo cái thói quen cũ bằng cách dồn chứa công đức sao cho ngày một nhiều hơn. Đó là căn bệnh trầm trọng sẵn có của tất cả chúng sanh.
Đức A Di Đà, đấng Toàn Giác, biết bệnh của chúng sanh muôn thuở đều như vậy, nên Ngài quyết tâm chữa lành cho kỳ được, bằng phương thức cải biến tâm linh của chúng sanh một cách triệt để hoàn toàn. Cải biến như thế nào, để giúp chúng sanh thực hiện những bước khởi đầu?
Đó là lý do tại sao Lời Nguyện thứ 19 đã xuất hiện, góp mặt vào cuộc sống chúng ta. “Lời Nguyện mong ước chúng sanh gieo trồng tất cả các loại công đức”, hoặc là “Lúc sắp lâm chung, đức Phật sẽ hiện thân trước mặt”.  Và còn nữa:”Đức Phật hứa sẽ hiện thân để tiếp dẫn qua miền Cực Lạc”, hay là :”ước mong sao mọi người sẽ phát khởi Tâm Chuyên Nhất,  Tâm Thành Khẩn…”
Nguyên văn “Lời Nguyện thứ 19 dược dẫn từ bản kinh Vô Lượng Thọ như sau:
“Khi tôi thành Phật, chúng sanh trong mười phương phát khởi tâm thái giác ngộ (bồ-đề tâm), gieo trồng các loại công đức, và dấy khởi lòng thành khẩn mà ước nguyện sanh về cõi nước tôi, đến lúc lâm chung nếu tôi cùng chư vị thánh chúng chẳng hiện thân trước người ấy để đón rước, thì tôi thề không chấp nhận địa vị Toàn Giác”.
Sự thành tựu lời nguyện này được trích dẫn  từ đoạn kinh văn diễn tả về Ba Cấp Bậc Của Sự Vãng Sanh,  hoặc diễn tả các pháp quán tưởng để được vãng sanh Cực Lạc.  Đó là pháp quán tưởng thứ 14, 15, 16  trong bản kinh Quán Vô Lượng Thọ, đồng thời trình bày Chín Phẩm Vãng Sanh của các vị thượng thiện nhân ở cõi Tinh-độ qua các phương tiện thiền-quán hoặc phi-thiền-quán…



 (17)

Ngược lại,  tổ sư Nguyên Tín, bậc Thầy về Thủ Lăng Nghiêm (le Maitre du Shuryôgon), trong chương “Những Chứng Cứ Về Hiệu Quả của sự Niệm Phật”  đã triển khai đề tài : “Lời Nguyện thứ 18 là Lời Nguyện Chọn Lọc Nhất trong các lời nguyện được tuyển chọn”. 
 Đối với tất cả các vị thiện hữu đang sử dụng những công phu tu tập thiền quán và phi thiền quán  được xiển dương bởi Quán Vô Lượng Thọ Kinh, ngài Nguyên Tín nhấn mạnh tha thiết rằng: những kẻ đa mang đủ loại tội chướng nặng nề, chỉ cần thành khẩn thốt lên: “Nam mô A Di Đà Phật’’ thì tức khắc, bao nhiêu tội chướng liền bị tiêu diệt hoàn toàn, và sẽ cảm nhận một nỗi bình an, hạnh phúc bất tuyệt…
Hỡi những bậc Tăng sỹ cũng như cư sỹ trên thế giới ô nhiễm này, xin quý vị hãy đối diện với chính mình và tự thẩm tra năng lực của bản thân một cách nghiêm túc.
Chỉ có vậy thôi!


(18)
  
Về khía cạnh khác, đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã mở bày Kho Tàng Công Đức của chánh pháp tối thượng - kế tiếp là phần việc của đức A Di Đà, đấng Toàn Giác: để cải biến tâm linh tất cả chúng sanh trong mười phương thế giới ác trược này, đức A Di Đà đã công bố một lời hứa hẹn tương quan đến cứu cánh giải thoát rốt ráo và những nhân tố chân chánh đưa đến cứu cánh tối hậu ấy. Lời hứa hẹn nêu trên, phát khởi từ lòng đại bi, chính là nhằm mục đích dẫn dắt hết thảy chúng sanh tới bến bờ trí giác.
Đại Bi Thệ Nguyện thứ 20 còn gọi là “Lời Nguyện ước mong chúng sanh thường xuyên niệm Phật như là gieo trồng gốc rễ của mọi công đức vô lậu”. Ngoài ra, còn gọi là: “Lời Nguyện bảo đảm chắc chắn vãng sanh bởi chuyên nhất tư tưởng mà nghĩ nhớ đến cõi nước tôi...” (hệ niệm ngã quốc). Và còn gọi là: “đem tâm chí thành, hồi hướng công đức...“  
Nguyên văn Lời Nguyện Thứ 20 là:
Khi tôi thành Phật, tất cả chúng sanh khắp mười phương nghe danh hiệu tôi mà chuyên nhất tư tưởng hướng về cõi nước tôi, gieo trồng Gốc Rễ của tất cả công đức, và đem tâm thành khẩn hồi hướng công đức để vãng sanh trong cõi nước tôi - nếu không có được kết quả như ý  mặc dù đã thực hiện những điều cần thiết, thì tôi thề không chấp nhận địa vị Toàn Giác.”
Bản kinh Vô Lượng Thọ còn đi xa hơn: “Những kẻ nào còn hoài nghi các tri thức đạo lý vừa nêu trên, và chẳng tin tưởng chút gì vào các điều ấy, thì tuy vẫn gieo trồng Gốc Rễ công đức để hy vọng vãng sanh Cực Lạc dù thường đặt lòng tin gắn liền với những khái niệm công đức và tội lỗi - rốt cuộc những kẻ ấy sẽ tái sanh trong Cung Điện Thai Sen nơi biên địa cõi Cực Lạc.”
Hiển nhiên chỉ vì thế, mà tôi biết chắc rằng người ta thực hành một công phu chọn lọc như Niệm Phật mà lại đem kết hợp với một tư tưởng tạp loạn (đem tín tâm pha trộn với tự lực), thì sẽ không thể nào đạt đến Đại Hoan Lạc. Đây là lý do tại sao tổ sư Thiện Đạo nói:
 “Kẻ naò không phát khởi tư tưởng tri ân về sự đoái hoài của Phật đã từng ban phát cho chúng ta biết bao ân đức của sự Vãng Sanh, mà chỉ một mực chăm chú vào việc chất chứa những hành vi tu tập tự lực, đồng thời nổi lên những tư tưởng kiêu ngạo, hoặc mưu đồ kiếm chác danh vọng cùng lợi ích vật chất. Kẻ ấy chắc hẳn bị quay cuồng trong ngục tù bản ngã chật hẹp u mê, y sẽ không có được một người bạn thiết để đồng hành trên bước đường tu tập. Y lấy làm thích thú biết bao bởi vô số phương thức tu tập tự lực, y nào biết rằng chính y đã gây ra chướng ngại cho sự tinh tiến đích thực, nhờ đó mà người ta được tái sanh Tịnh-độ chỉ bởi năng lực của Phật mà thôi (Tha Lực).




(19)
NIỆM PHẬT VÀ CÁC THỜI KỲ CHÁNH PHÁP


Tôi tin tưởng rằng, giáo lý tu tập theo Con Đường Của Các Thánh Nhân là phương tiện hành trì chỉ dành riêng cho các bậc thượng căn vào thời kỳ đức Thích Ca Mâu Ni còn hóa đạo tại thế gian,  đó là giai đoạn của Chánh Pháp Chân Thật (Đúng Đắn) - chứ không thể nào ban cho chúng sanh vào các thời kỳ hánh Pháp Tương Tự hoặc Chánh Pháp Suy Tàn và Chánh Pháp Diệt Tận.
Thời gian đầu tiên đã qua rồi, giáo lý tu tập theo Con Đường Của Bậc Thánh Nhân thì dường như chẳng còn mấy thích ứng với các thời kỳ tiếp theo.
Trái lại, Niệm Phật tức là Đạo Phật Chân Chánh của Tịnh-độ được thực hành vào thời đức Thích Ca còn lưu trụ trên thế gian naỳ, giáo pháp lúc ấy là Chánh Pháp Đúng Đắn, nhưng đặc biệt vẫn còn được thực hành rộng rãi vào các thời đại Chánh Pháp Tương Tự, Chánh Pháp Suy Tàn hoặc Chánh Pháp Diệt Tận.                  
Niệm Phật cũng là sự dìu dắt tràn đầy xót thương mà chư Phật ban cho chúng ta, và là phương tiện hết sức phù hợp với đại đa số chúng sanh trong thời đại xấu ác sẵn đủ năm loại nhiễm ô…
Trong bộ Đại Trí Độ Luận, ngài Long Thọ đã trình bày giáo pháp về “Bốn Lãnh Vực Nương Tựa” (Tứ Y Pháp) như sau:
“Vào lúc sắp sửa bước vào Đại Niết Bàn, đức Phật dặn dò chư vị tỳ-kheo rằng: kể từ nay, các con phải:
Thứ nhất, nương tựa vào Chánh Pháp mà chớ nương tựa vào người thuyết giảng.
Thứ hai, các con hãy nương tựa vào ý nghĩa giáo pháp mà chớ căn cứ vào ngôn ngữ, văn tự.
Thứ ba, các con hãy nương tựa vào Trí Tuệ Chân Thật chứ đừng căn cứ vào cảm nhận của 6 thức.
Thứ tư, các con hãy nương tựa vào những bản kinh có ý nghiã rõ ràng chứ đừng nên căn cứ vào những bản kinh mang ý nghĩa khúc mắc, bí mật và mù mờ. 
Vì vậy cho nên, vào thời đại chánh pháp suy tàn như hiện nay, quý vị tăng sỹ cũng như cư sỹ đều phải thực hành Giáo Pháp được nhắc nhở trong “Bốn Lãnh Vực Nương Tựa” (Tứ Y Pháp).        
Thân Loan tôi căn cứ vào những mục tiêu đúng đắn và xác thực của chư Tổ sư cũng như các bộ luận giái của các thánh hiền thuở xưa, tôi sẽ chứng minh rằng: 
Thánh Đạo, hay Con Đường Tu Tập Của Các Bậc Thông Tuệ, chỉ là giáo lý nhất thời ở vào giai đoạn khởi đầu của đạo Phật - còn Con Đường Trở Về Tịnh-Độ bằng thực hành Niệm Phật, lại là giáo lý quyết định dứt điểm, phù hợp với tất cả các giai đoạn phát triển của đạo Phật, dù ở bất cứ không gian nào, địa phương nào. Tôi cũng quan tâm đến việc phản ứng nghiêm túc đối với những sự diễn dịch sai lầm và cũng muốn chống lại những giáo lý ngọai lai, hỗn tạp trong đạo Phật.
Để có thể phân biệt những thời kỳ khác nhau sau khi Phật Thích Ca niết-bàn, tôi sẽ xác định ranh giới của các thời đại ấy, đâu là thời kỳ Chánh Pháp Đúng Đắn, đâu là thời kỳ Chánh Pháp Tương Tự,  đâu là thời kỳ Chánh Pháp Suy Tàn., Ngài Đạo Xước nói: Để trình bày thời đại nào kinh điển tồn tại trên thế gian, và thơì đại nào kinh điển bị hủy diệt, tôi phải nói rằng: sau khi đức Thích Ca diệt độ, chánh pháp đúng đắn được duy trì trong khỏang 500 năm.
Thời kỳ chánh pháp tương tự kéo dài khoảng một ngàn năm tiếp theo đó. Giai đoạn suy tàn của chánh pháp (mạt pháp) kéo dài khoảng mười ngàn năm. Rồi thì số lượng chúng sanh tu tập theo Phật-pháp sẽ càng ngày càng giảm bớt và tất cả các loại kinh điển đều bị biến mất hoàn toàn. Khi ấy, đấng Thế Tôn Tòan Giác mới xót thương hết thảy chúng sanh bị thiêu đốt bởi khổ não ưu phiền, Ngài sử dụng tuệ nhãn để chọn một bản kinh có khả năng cứu độ tất cả, đó là kinh Vô Lượng Thọ, và Ngài quyết định cho phép bản kinh này lưu trụ trên thế gian khoảng hơn một trăm năm.
Ngài tiếp lời:
Trong bản kinh Vô Lượng Thọ Như Lai Hội,  đức Phật dạy rằng: ”Vào thời mạt pháp, mặc dầu có ức ức chúng sanh tu tập theo chánh pháp của Ta,  nhưng chẳng có một người nào chứng ngộ rốt ráo cả”. Quả thật, chúng ta đang ở vào thời kỳ mạt pháp: đó là thời đại mà cuộc sống bị nhiễm ô bởi năm thứ dơ bẩn (ngũ trược ác thế). Chúng ta không đủ khả năng dù nhỏ bé để có thể tu tập theo bất cứ giáo pháp chân chánh nào của đạo Phật, duy chỉ có Niệm Phật là công phu tu tập dễ dàng mà chúng ta có thể thực hiện nổi…“                   



(20)

Nhờ nương tựa vào kinh điển mà chúng ta có được sự phân biệt thế nào là giáo pháp tạm thời và thế nào là giáo pháp bất biến, xác định - tôi quyết tâm chống lại những thứ giáo lý ngoại lai, hỗn tạp đang hiện hữu trong đạo Phật, và tôi cũng cương quyết phản ứng mạnh mẽ đối với những diễn dịch sai lầm vẫn còn tồn tại rải rác quanh đây.
Về đề tài này, kinh Đại Bát Niết Bàn nói:
“Bất cứ người nào đã quy y Phật, thì hoàn toàn không đặt niềm tin vào bất cứ năng lực thần quyền khác… “
Kinh Đại Tập đưa vấn đề này ra trước các đức Như Lai và được dạy như sau:
”Là đệ tử của Như Lai, nhà ngươi đã học hỏi những giáo lý được kiết tập và muốn thực hiện  trong
đời sống… Nhà ngươi chỉ nên quy y Phật, quy y Pháp, quy y Thánh Hiền Tăng. Đồng thời không quy y ngoại đạo, tà giáo. Không sùng bái các loại chư Thiên. Không hiến mình thờ cúng các loại Ma, Quỷ, Thánh Thần. Không nên mê say bói tóan kiết hung, dâng sao giải hạn, tử vi, phong thủy, xem ngày giờ tốt xấu…

(Nói chung, người niệm Phật thì không giải quyết vấn đề tâm linh bằng bất cứ một phương thức thế gian nào, ngoài việc duy trì công phu sáu chữ: Nam. Mô. A. Di. Đà. Phật) ./.
         




 (21)   LỜI CUỐI CÙNG


Hạnh phúc thay!
Con đã gieo cấy tâm hồn con trên khoảnh đất mơn mởn tươi xanh của Bản Nguyện A Di Đà, và con đã khơi dòng tư tưởng cuồn cuộn chảy vào đại dương của Chánh Pháp siêu việt tư duy và mô tả.
Con nhận biết từ đáy sâu thăm thẳm lòng xót thương bất tận của đấng Toàn Giác và con vô cùng thích thú đón nhận những ân đức vĩ đại đến từ những giáo huấn của chư Sư, chư Tổ. Niềm vui trào dâng đến mức độ tột cùng, và trong lòng con, một mối rung cảm chân thành của sự tri ân đang lớn dần lên.
Chính vì những nguyên do kia, mà con đã thực hiện công cuộc trình bày Đạo Phật Chân Chánh và tập hợp các phần cốt tủy của những giáo lý liên quan đến Niệm Phật Tịnh-Độ.                 
          Bởi vì con đã thâm nhập tận cùng những tầng sâu hun hút của ân đức Niệm Phật, nên con không hề quan tâm đến những mũi dùi phê phán hoặc thái độ chế riễu của người đời. Mặt khác, nếu có một người nào gặp cơ hội tiếp xúc với những bản văn này, mà chấp nhận với niềm tin cậy, hoặc còn nghi ngờ chút ít,  hoặc miễn cưỡng lắng nghe, thì nhờ những nhân duyên hi hữu này, một ngaỳ kia tâm hồn y sẽ đơm hoa nẩy nụ khiến cho Lòng Tin Thanh Tịnh sẽ bừng sáng ở trong y do năng lực Bản Nguyện A Di Đà - và rồi, quả đức Vi Diệu sẽ hiển hiện ngay nơi tự thân người ấy  trong Cõi Miền Cực Lạc.
Ngài Đạo Xước viết trong “An Lạc Tập, phần I” như thế này: “Con xin tập hợp nơi đây những lời dạy chân thật của Phật và Thầy, Tổ - chỉ mong giúp đỡ mọi người đạt được ý nguyện vãng sanh Cực Lạc”
Ước vọng của con, cũng như chí hướng của các bậc tiền nhân, là trở thành người dẫn dắt những kẻ hậu sanh, và dĩ nhiên người thời nay cũng có thể rút tỉa được một vài lợi ích khi tiếp nhận những lời chỉ bày của những người đi trước. Mong sao, thời đại nào cũng có sự tiếp nối liên tục cho đến mãi mãi về sau. Và nhờ sự tiếp nối vô tận này, mà đại dương khổ não của Sanh Tử  sẽ phải cạn khô.
Chúng ta đang ở vào thời kỳ suy tàn của chánh pháp (mạt pháp), mong sao các bậc Tăng sỹ cũng như cư sỹ, hãy đem cả lòng tin mà trân trọng và ngưỡng mộ giáo lý Niệm Phật này. Để rồi, quyết liệt chối bỏ mọi thứ ô nhiễm của thế gian và xác nhận danh hiệu Nam mô A Di Đà Phật mới là máu thịt và hơi thở của chính mình.
          Để kết thúc, xin trích dẫn một đoạn thơ từ bản kinh Hoa Nghiêm (le Soutra de l’Ornementation Fleurie) :
Kẻ kia rất mực chúng sanh
Thấy vị bồ-tát tu hành siêng năng
Dấy lên tâm niệm oán hờn
Hoặc là thù nghịch như từng nợ nhau
Người này rất mực thanh cao
Phát sanh tâm niệm yêu thương tràn trề
Trước sau Ngài vẫn từ bi
Chẳng hề phân biệt kẻ kia người này
Dang tay
bảo bọc cuộc đời
Như mưa
                rưới xuống cỏ cây chan hòa

                   Thân Loan